TuTap.vn • Kinh Bản Tu Trì

Kinh Sách Tu Tập

Ngày 18/09/2026 (Âm lịch: Ngày 8 tháng 8 năm 2026)

🪷 NGHI THỨC TRƯỚC KHI ĐỌC KINH, CHÚ

NGHI THỨC TRÌ TỤNG KINH Kinh Sách Tu Tập

(Dành cho hành giả tu tại gia)

I. Tiền Nghi: Khiết Tịnh & Trang Nghiêm

Trước khi bước vào đàn lễ, hành giả cần giữ cho "thân - khẩu - ý" được thanh tịnh:

  • Thân khiết tịnh: Tắm gội sạch sẽ, y phục chỉnh tề (nên mặc áo tràng lam hoặc cư sĩ).

  • Biến thông: Nếu Phật sự đa đoan, công việc bận rộn, hành giả tối thiểu phải súc miệng, rửa mặt, đôi tay sạch sẽ. Quan trọng nhất là gạt bỏ tạp niệm, giữ tâm ý nhẹ nhàng trước khi an tọa.

  • Đàn tràng: Chọn nơi yên tĩnh, lau dọn bàn kinh sạch sẽ. Nếu có bàn thờ Phật, hãy thắp đèn nến sáng sủa.

II. Pháp Sự Bắt Đầu

Bước 1: Thượng Hương (Dâng Hương)

Hành giả quỳ thẳng, dâng hương ngang trán, tâm quán tưởng khói hương xông thấu mười phương cõi Phật.

Khấn nguyện: "Nguyện đem lòng thành kính, gửi theo đám mây hương. Phảng phất khắp mười phương, cúng dường ngôi Tam Bảo. Thề trọn đời giữ đạo, theo tự tính làm lành. Cùng pháp giới chúng sinh, đồng vãng sinh Cực Lạc."

(Cắm hương vào lư, đảnh lễ Tam Bảo 3 lễ)

Bước 2: Phục Nguyện & Phát Nguyện

Hành giả chắp tay trang nghiêm, đọc lời tác bạch (có thể đọc thầm hoặc đọc thành tiếng nhỏ):

Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

Hôm nay là ngày: ngày.....tháng..... năm 2026 Dương Lịch hoặc ngày...tháng... năm 2026 Âm Lịch

Đệ tử con tên là: ………… (Pháp danh: …………)

Ngụ tại: ………………………………………………

Giờ này, con xin phát tâm chí thành trì tụng kinh Kinh Sách Tu Tập

Ngưỡng thỉnh:

  • Mười phương Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng.

  • Chư vị Thiên Long Bát Bộ, Hộ Pháp Thiện Thần. Xin quang giáng đàn tràng, chứng minh công đức, gia hộ cho đệ tử thân tâm định tĩnh, trí tuệ sáng suốt để việc trì tụng được viên mãn.

Cẩn cáo cung thỉnh:

  • Nội ngoại Gia tiên, Cửu Huyền Thất Tổ dòng họ ………

  • Chư vị Thần linh bản xứ, tiền chủ hậu chủ nơi đất này.

  • Chư vị Oan gia trái chủ, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh trong nhiều đời nhiều kiếp.

Nguyện xin cùng vân tập về đây, nương nhờ uy lực của Phật Pháp, lắng nghe kinh văn, khai tâm mở trí, lìa khổ u minh, đồng hướng về nẻo giác, vãng sinh cõi lành.

Đảnh lễ (Trì tụng danh hiệu):

  • Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần - Mỗi lần 1 lạy để tiêu trừ nghiệp chướng trước khi đọc kinh)

  • Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần - Để tương ưng với bản nguyện)

  • Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần - Để nhờ ngài tiếp dẫn các hương linh)

III. Chính Nghi: Trì Tụng Kinh Văn Kinh Sách Tu Tập

  • Tâm thế: Đọc rõ ràng, rành mạch, không cần quá nhanh. Tâm đặt vào lời kinh (Tâm lưu xuất, nhĩ lắng nghe).

  • Linh hoạt:

    • Nếu có thời gian: Tụng trọn bộ (Toàn kinh).

    • Nếu bận rộn: Có thể chia theo Phẩm để tụng.

    • Khi có việc đột xuất: Đọc đến hết một Phẩm, xá ba xá, đánh dấu trang kinh.

Lời tác bạch khi tạm dừng: "Nay đệ tử có duyên sự (hoặc sức khỏe), xin tạm dừng việc trì tụng Kinh Sách Tu Tập tại đây. Nguyện đem lòng thành kính này giữ trọn, mai sau tiếp tục hành trì cho đến khi viên mãn."

📖 Kinh Sách Tu Tập — CHÍNH VĂN TOÀN BỘ

Thích Trí Tịnh

Kinh

PHÁP HOA

Chùa Viên Giác tái bản PL. 2562 – DL 2018

 

 

 NGHI THỨC SÁM HỐI      

 

TRƯỚC KHI TỤNG KINH

(Dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh mà tụng kinh, thì phúc đức vô lượng, nên trước khi tụng kinh cần phải sám hối, sám hối tức là làm cho 3 nghiệp thanh tịnh)

Nam-mô Thập-phương Tận hư-không giới nhứt thiết Chư Phật. (1 lạy)

Nam-mô Thập-phương Tận hư-không giới nhứt thiết Tôn Pháp. (1 lạy)

Nam-mô Thập-phương Tận hư-không giới nhứt-thiết Hiền Thánh Tăng. (1 lạy)

(Quỳ, tay cầm hương cúng dường phát nguyện)

Nguyện mây hương mầu này

Khắp cùng mười phương cõi

Cúng dường tất cả Phật 

Tôn Pháp, các Bồ-Tát, 

Vô biên chúng Thanh-văn

Và cả thảy Thánh Hiền

Duyên khởi đài sáng chói

Trùm đến vô biên cõi,

Khắp xông các chúng sinh

Đều phát lòng Bồ-đề,

Xa lìa những nghiệp vọng

Trọn nên đạo vô thượng.

 

(xá 3 xá, cắm hương lên lư)

(Đứng thẳng chắp tay xướng)

 

Sắc thân Như-Lai đẹp

Trong đời không ai bằng

Không sánh, chẳng nghĩ bàn

Nên nay con đảnh lễ.

Sắc thân Phật vô tận

Trí-huệ Phật cũng thế,

Tất cả Pháp thường trụ

Cho nên con về nương,

Sức trí lớn nguyện lớn

Khắp độ chúng quần sinh,

Khiến bỏ thân phiền khổ

Sinh nước kia an vui.

Con nay sạch ba nghiệp

Quy y và lễ tán

Nguyện cùng các chúng sinh

Đồng sinh nước An-Lạc.

Án phạ nhựt ra vật. (7 lần )

 

Chí tâm đảnh lễ:

(Câu này dùng xướng chung đầu câu cho 9 câu dưới)

1 - Thường Tịch Quang Tịnh Độ A-Di- Đà Như-Lai Pháp Thân Mầu Thanh Tịnh Khắp Pháp Giới Chư Phật (1 lạy)

2 - Thật Báo Trang Nghiêm Độ A-Di-Đà Như-Lai Thân Tướng Hải Vi Trần Khắp Pháp Giới Chư Phật. (1 lạy)

3 - Phương Tiện Thánh Cư Độ A-Di-Đà Như-Lai Thân Trang Nghiêm Giải Thoát Khắp Pháp Giới Chư Phật. (1 lạy)

4 - Cõi An Lạc Phương Tây A-Di-Đà Như-Lai Thân Căn Giới Đại Thừa Khắp Pháp Giới Chư Phật. (1 lạy)

5 - Cõi An Lạc Phương Tây A-Di-Đà Như-Lai Thân Hóa Đến Mười Phương Khắp Pháp Giới Chư Phật. (1 lạy)

6 - Cõi An Lạc Phương Tây Giáo Hạnh Lý Ba Kinh Tột Nói Bày Y Chánh Khắp Pháp Giới Tôn Pháp. (1 lạy)

7 - Cõi An Lạc Phương Tây Quán-Thế- Âm Bồ-Tát Thân Tử Kim Muôn Ức Khắp Pháp Giới Bồ Tát. (1 lạy)

8 - Cõi An Lạc phương tây Đại Thế-Chí Bồ-Tát Thân trí sáng vô biên Khắp pháp giới Bồ-Tát. (1 lạy)

9 - Cõi An Lạc phương tây Thanh-tịnh đại-hải-chúng Thân hai nghiêm: Phước, Trí Khắp pháp giới Thánh-chúng. (1 lạy )

( Đứng chắp tay nguyện)

Con nay khắp vì bốn ơn ba cõi cùng chúng sinh trong pháp giới, đều nguyện dứt trừ ba chướng1 nên qui mạng2 sám hối3.

(1 lạy, quỳ chắp tay sám hối)

 

CHÍ TÂM SÁM HỐI

Đệ tử... và chúng sinh trong pháp giới, từ đời vô thỉ nhẫn đến ngày nay, bị vô minh che đậy nên điên đảo mê lầm, lại do sáu căn ba nghiệp4 quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng năm tội vô gián5 và tất cả các tội khác, nhiều vô lượng vô biên nói không thể hết. Mười phương các đức Phật thường ở trong đời, tiếng pháp không dứt, hương mầu đầy lấp, pháp vị ngập tràn, phóng ánh sáng sạch trong chiếu soi tất cả. Lý mầu thường trụ đầy dẫy hư không.

Con từ vô thỉ đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối tăm, chẳng thấy, chẳng nghe, chẳng hay chẳng biết, vì nhân duyên đó trôi mãi trong vòng sinh tử, trải qua các đường dữ6 trăm nghìn muôn kiếp trọn không lúc nào ra khỏi. - Kinh rằng: “Đức Tỳ-Lô-Giá-Na thân khắp cả chỗ, chỗ của Phật ở gọi là Thường-Tịch-Quang, cho nên phải biết cả thảy các pháp đều là Phật pháp, mà con không rõ lại theo giòng vô minh, vì thế trong trí Bồ-đề mà thấy không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sinh ràng buộc. Nay mới tỏ ngộ, nay mới chừa bỏ ăn năn, phụng đối trước các đức Phật và A Di Đà Thế Tôn mà phát lồ7 sám hối làm cho đệ tử cùng pháp giới chúng sinh, tất cả tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ vô thỉ, hoặc hiện tại cùng vị lai, chính mình tự gây tạo hoặc biểu người, hay là thấy nghe người gây tạo mà vui theo, hoặc nhớ hoặc chẳng nhớ, hoặc biết hoặc chẳng biết, hoặc nghi hoặc chẳng nghi, hoặc che giấu hoặc chẳng che giấu, thảy đều được rốt ráo thanh tịnh.

Đệ tử sám hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn lành tu tập cũng trọn thanh tịnh, thảy đều hồi hướng dùng trang nghiêm Tịnh-độ khắp với chúng sinh, đồng sinh về nước An- Dưỡng.

Nguyện đức A-Di-Đà Phật thường đến hộ trì, làm cho căn lành của đệ tử hiện tiền tinh tấn, chẳng mất nhân duyên Tịnh-độ, đến giờ lâm chung, thân an niệm chánh, xem nghe đều rõ ràng, tận mặt thấy đức A-Di-Đà cùng các Thánh-chúng, tay cầm đài hoa tiếp dẫn đệ tử, trong khoảng sát- na sinh ra trước Phật, đủ đạo hạnh Bồ- Tát rộng độ khắp chúng sinh đồng thành Phật đạo.

 

Đệ tử sám hối phát nguyện rồi qui mạng đảnh lễ:

Nam-mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Đại Từ Đại Bi, A-Di-Đà Như-Lai, Biến Pháp Giới Tam Bảo. (1 lạy)

(Lạy xong, tiếp Nghi-Thức tụng kinh)

 

Thích Nghĩa Sám Pháp

  1. 1.Phiền não, nghiệp nhân, quả báo, ba món đều hay làm chướng ngại đường giải thoát nên gọi: “Ba món chướng.
  2. 2.Đem thân mạng về nương, giao phó cho Phật, Pháp, Tăng chính là nghĩa của hai chữ “Nam-mô”.
  3. 3.Nói đủ là Sám-ma hối quá. “Sám-ma” là tiếng Phạm, nghĩa là “hối quá”, tức là ăn năn tội trước, ngừa giữ lỗi sau.
  4. 4.Nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý: Sáu căn, và ba nghiệp: thân, khẩu, ý.
  5. 5.Giết cha, giết mẹ, giết Thánh-nhân, ác tâm làm thân Phật ra máu, phá hòa hợp Tăng, gọi là năm tội nghịch, nếu phạm sẽ bị đọa vào ngục Vô-gián nên gọi là tội Vô-gián. Ngục Vô-gián là chỗ thọ khổ không có lúc nào ngừng ngớt.
  6. 6.A-tu-la, Súc-sinh, ngạ-quỉ, địa-ngục, các đường đó vui ít khổ nhiều, do nghiệp dữ cảm ra.
  7. 7.Bày lộ tội lỗi ra trước Đại-chúng không chút giấu che thời gọi là phát lồ, trái với phú tàng (che giấu). Có phát lồ thời tội mới tiêu, như bệnh cảm mà được phát hạn (ra mồ hôi).
 

 

NGHI THỨC TRÌ TỤNG

 

KỆ TÁN LƯ HƯƠNG

Lò hương vừa nhen nhúm

Pháp giới đã được xông

Các Phật trong hải hội đều xa hay

Theo chỗ kết mây lành

Lòng thành mới ân cần

Các Phật hiện toàn thân.

Nam-mô Hương-Vân-Cái Bồ-Tát Ma- Ha-Tát. (3 lần)

 

CHÂN NGÔN TỊNH PHÁP GIỚI

Án Lam (7 lần)

(Trì chú này thì thân tâm, cảnh vật đều thanh tịnh)

 

CHÂN NGÔN TỊNH KHẨU NGHIỆP

Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị ta-bà- ha. (7 lần)

(Trì chú này thì hơi miệng trong sạch)

 

CHÂN NGÔN TỊNH TAM NGHIỆP

Án ta phạ, bà phạ thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ bà phạ thuật độ hám (3 lần)

(Trì chú này thì thân, miệng, lòng đều trong sạch)

 

CHÂN NGÔN PHỔ CÚNG DƯỜNG

Án nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)

(Trì chú này thì hoa hương cùng tiếng tụng niệm sẽ khắp cúng dường cả mười phương)

 

VĂN PHÁT NGUYỆN

 Nam-mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo (3 lần)   

Cúi lạy đấng Tam-giới Tôn,

Quy mạng cùng mười phương Phật

Con nay phát nguyện rộng

Thọ trì kinh Pháp-Hoa

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ[1]

Nếu có kẻ thấy nghe

Đều phát lòng Bồ-đề

Hết một báo thân này

Sinh qua cõi Cực-Lạc.

Nam-mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật (3 lần)    

 

KỆ KHAI KINH

Pháp vi diệu rất sâu vô lượng

Trăm nghìn muôn ức kiếp khó gặp Con nay thấy nghe được thọ trì

Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như-Lai.

 

KỆ KHEN NGỢI KINH

 Hơn sáu muôn lời, thành bảy cuốn   

Rộng chứa đựng vô biên nghĩa mầu

Trong cổ nước cam lộ rịn nhuần

Trong miệng chất đề hồ nhỏ mát

Bên răng ngọc trắng tuôn xá-lợi

Trên lưỡi sen hồng phóng hào quang

Dầu cho tạo tội hơn núi cả

Chẳng nhọc Diệu-Pháp vài ba hàng.

Nam-mô Pháp-Hoa Hội-Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)          

  

Kinh

DIỆU PHÁP LIÊN HOA

Quyển Thứ Nhất

Đời Diêu-Tần, Ngài Tam-Tạng Pháp-Sư Cưu-Ma-La-Thập phụng chiếu dịch.

PHẨM “TỰ” THỨ NHẤT

1. - Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ đức Phật9 ở trong núi Kỳ-Xà Quật, nơi thành Vương Xá cùng chúng đại Tỳ-kheo một vạn hai ngàn người câu hội. Các vị đó đều là bậc A-La-Hán, các lậu10 đã hết, không còn phiền não, việc lợi mình đã xong11 dứt sự ràng buộc trong các cõi12 tâm được tự tại. Tên của các vị đó là: A- Nhã Kiều-Trần-Như, Ma-Ha Ca-Diếp, Ưu-Lâu-Tần-Loa Ca-Diếp, Dà- Gia Ca- Diếp, Na-Đề Ca-Diếp, Xá-Lợi-Phất, Đại Mục-Kiền-Liên, Ma-Ha Ca-Chiên-Diên, A-Nậu-Lâu-Đà, Kiếp-Tân-Na, Kiều-Phạm Ba-Đề, Ly-Bà-Đa, Tất-Lăng-Già-Bà-Ta- Bạc-Câu-La, Ma-Ha-Câu-Hy-La, Nan-Đà, Tôn-Đà-La Nan-Đà, Phú-Lâu-Na, Di-Đa- La-Ni-Tử, Tu-Bồ-Đề, A-Nan, La-Hầu-La v.v.. đó là những vị đại A-La-Hán hàng tri thức của chúng. Lại có bậc hữu-học và vô-học 13 hai ngàn người. Bà Tỳ-kheo-ni Ma-ha Ba-Xà-Ba-Đề cùng với quyến thuộc sáu ngàn người câu- hội. Mẹ của La-Hầu-La là bà Tỳ -kheo-ni Gia-Du-Đà-La cùng với quyến thuộc câu- hội.

2.- Bậc đại Bồ-Tát tám muôn người đều không thối chuyển ở nơi đạo vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác 14 , đều chứng được pháp Đà-la-ni15 nhạo-thuyết biện tài16 chuyển nói pháp luân bất thối chuyển, từng cúng dường vô lượng trăm nghìn Chư Phật, ở các nơi đức Phật trồng các cội công-đức. Thường được các Phật ngợi khen, dùng đức từ để tu thân, khéo chứng trí tuệ của Phật thông đạt đại-trí đến nơi bờ kia17, danh đồn khắp vô lượng thế-giới có thể độ vô số trăm ngàn chúng sinh. Tên của các vị đó là: Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát. Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, Đắc-Đại- Thế Bồ-Tát, Thường-Tinh-Tấn Bồ-Tát, Bất-Hưu Tức Bồ-Tát, Bửu-Chưởng Bồ- Tát, Dược-Vương Bồ-Tát, Dõng-thí Bồ- Tát, Bửu-Nguyệt Bồ-Tát, Nguyệt-Quang Bồ-Tát, Mãn-Nguyệt Bồ-Tát, Đại-Lực Bồ- Tát, Vô-Lượng-Lực Bồ-Tát, Việt-Tam- Giới Bồ-Tát, Bạt-Đà Bà-La Bồ-Tát, Di- Lặc Bồ-Tát, Bửu-Tích Bồ-Tát, Đạo-Sư Bồ- Tát v.v... các vị đại Bồ-Tát như thế tám vạn người câu hội.

3.- Lúc bấy giờ, Thích Đề Hoàn Nhân18 cùng quyến thuộc hai vạn vị thiên-tử câu hội. Lại có Minh-Nguyệt thiên tử, Phổ- Hương thiên tử, Bửu-Quang thiên-tử, bốn vị đại Thiên-Vương cùng với quyến-thuộc một vạn thiên-tử câu hội. Tự-Tại thiên-tử, Đại-Tự-Tại thiên-tử cùng với quyến thuộc ba vạn thiên-tử câu hội. Chủ cõi Ta-Bà: Phạm-Thiên-Vương, Thi-Khí-Đại-Phạm, Quang-Minh Đại- Phạm v.v... cùng với quyến thuộc một vạn hai ngàn vị thiên-tử câu hội. Có tám vị Long-vương: Nan-Đà Long- vương, Bạt-Nan-Đà Long-vương, Sa-Dà- La Long-vương, Hòa-Tu-Cát Long-vương, Đức-Xoa-Ca Long-vương, A Na-Bà-Đạt- Đa Long-vương, Ma-Na-Tư Long-vương, Ưu-Bát-La Long-vương v.v... đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội. Có bốn vị Khẩn-Na-La vương: Pháp- Khẩn-Na-La vương, Diệu-Pháp Khẩn-Na- La vương, Đại-Pháp Khẩn-Na-La vương, Trì-Pháp Khẩn-Na-La vương đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến-thuộc câu hội.

Có bốn vị Càn-Thát-Bà vương: Nhạc- Càn-Thát-Bà vương, Nhạc-Âm-Càn-Thát- Bà vương, Mỹ-Càn-Thát-Bà vương, Mỹ- Âm Càn-Thát-Bà vương, đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến-thuộc câu hội.

Có bốn vị A-Tu-La vương: Bà-Trĩ A- Tu-La vương, Dà-La-Khiên-Đà A-Tu-La vương, Tỳ-Ma-Chất-Đa-La A-Tu-La vương, La-Hầu A-Tu-La vương, đều cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến-thuộc câu hội.

Có bốn vị Ca-Lâu-La vương: Đại-Oai- Đức Ca-Lâu-La vương, Đại-Thân Ca-Lâu- La vương, Đại-Mãn Ca-Lâu-La vương, Như-Ý Ca-Lâu-La vương, đều cùng bao nhiêu quyến thuộc câu hội.

Vua A-Xà-Thế, con bà Vi-Đề-Hi, cùng bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc câu hội. Cả chúng đều lễ chân Phật, lui ngồi một phía.

4.- Lúc bấy giờ, đức Thế-Tôn, hàng tứ chúng vây quanh cúng-dường cung kính ngợi khen tôn trọng, vì các vị Bồ-Tát mà nói kinh Đại-thừa tên: “Vô-Lượng-Nghĩa”, là pháp giáo hoá Bồ-Tát được Chư Phật hộ-niệm.Nói kinh này xong, đức Phật ngồi xếp bằng nhập vào chánh định “Vô-Lượng Nghiã-Xứ”, thân và tâm của Phật đều không lay động. Khi đó trời mưa hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha Mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa, hoa Ma-ha Mạn-thù-sa, để rải trên đức Phật cùng hàng đại chúng; khắp cõi Phật sáu điệu vang động19Lúc bấy giờ, trong chúng hội, các hàng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự-nam, cận-sự- nữ, Trời, Rồng, Dạ-Xoa, Càn-thát-bà20, A- tu-la21, Ca-lâu-la22, Khẩn-na-la23, Ma-hầu- la-dà24 , nhân, phi-nhân và các vị tiểu- vương cùng Chuyển-luân-thánh-vương, các đại chúng ấy đều được thấy việc chưa từng có, vui mừng chắp tay một lòng nhìn Phật.

5.- Bấy giờ, đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặn mày phóng ra luồng hào- quang chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, dưới thời chiếu đến địa ngục A-Tỳ, trên suốt thấu trời Sắc- cứu-cánh. Chúng ở cõi này đều thấy cả sáu loài chúng-sinh25, ở các cõi kia. Lại thấy các đức Phật hiện tại nơi các cõi kia và nghe kinh pháp của các đức Phật ấy nói. Cùng thấy nơi các cõi kia, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ, những người tu hành đắc đạo. Lại thấy các vị đại Bồ-Tát dùng các món nhân duyên, các lòng tín giải, các loại tướng mạo mà tu hành đạo Bồ-Tát. Lại thấy các đức Phật nhập Niết-bàn, lại thấy sau khi các đức Phật nhập Niết-bàn, đem xá-lợi của Phật mà dựng tháp bằng bảy báu.

6.- Khi ấy, ngài Di-Lặc Bồ-Tát nghĩ rằng: “Hôm nay đức Thế-Tôn hiện thần biến tướng, vì nhân duyên gì mà có điềm lành này. Nay đức Phật đương nhập chánh định, việc biến hiện hi hữu không thể nghĩ bàn này nên hỏi ai, ai đáp được?” Ngài lại nghĩ: “Ông Pháp Vương Tử26 Văn-Thù Sư-Lợi này đã từng gần gũi cúng dường vô lượng các đức Phật đời quá khứ chắc đã thấy tướng hi hữu này, ta nay nên hỏi ông.” Lúc đó, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ27 và các trời, rồng, quỉ, thần v.v… đều nghĩ rằng: “Tướng thần thông sáng chói của đức Phật hiện đây, nay nên hỏi ai?”

7.- Bấy giờ, ngài Di-Lặc Bồ-Tát muốn giải quyết chỗ nghi của mình, Ngài lại xét tâm niệm của bốn-chúng: Tỳ-kheo, Tỳ- kheo-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ và của cả chúng hội trời, rồng, quỉ, thần v.v… mà hỏi Văn-Thù Sư-Lợi rằng: “Vì nhân duyên gì mà có tướng lành thần thông này, Phật phóng ánh sáng lớn soi khắp một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, đều thấy cõi nước trang nghiêm của các đức Phật?” Khi đó, ngài Di-Lặc muốn nói lại nghĩa trên, dùng kệ hỏi rằng:

8.- Ngài Văn-Thù Sư-Lợi! 

Đức Đạo-Sư cớ chi

Lông trắng giữa chặn mày

Phóng ánh sáng khắp soi?

Trời mưa hoa Mạn-đà

Cùng hoa Mạn-thù-Sa,

Gió thơm mùi chiên đàn

Vui đẹp lòng đại chúng

Vì nhân duyên như vậy

Cõi đất đều nghiêm tịnh

Mà trong thế giới này

Sáu điệu vang động lên

Bấy giờ bốn bộ chúng

Thảy đều rất vui mừng

Thân cùng ý thơ thới

Được việc chưa từng có.

9.- Ánh sáng giữa chặn mày 

Soi suốt thẳng phương

Đông Một muôn tám nghìn cõi

Đều ánh như sắc vàng.

Từ địa ngục A-tỳ

Trên đến trời Hữu-Đảnh

Trong các thế giới đó

Cả sáu đạo chúng sinh

Sống chết của kia đến

Nghiệp duyên lành cùng dữ

Thọ báo có tốt xấu

Tại đây đều thấy rõ.

10.- Lại thấy các đức

Phật Đấng Thánh-Chúa sư-tử

Diễn nói các kinh điển

Nhiệm mầu bậc thứ nhất.

Tiếng của Ngài thanh-tịnh

Giọng nói ra êm dịu

Dạy bảo các Bồ-Tát

Vô-số ức muôn người

Tiếng Phạm-âm thâm diệu

Khiến người đều ưa nghe.

Các Phật ở cõi mình

Mà giảng nói chánh pháp

Dùng nhiều món nhân duyên

Cùng vô lượng tỉ dụ

Để soi rõ Phật Pháp

Mà khai ngộ chúng sinh.

Nếu có người bị khổ

Nhàm lìa già, bệnh, chết,

Phật vì nói Niết-bàn

Để dứt các ngằn khổ

Nếu là người có phước

Đã từng cúng dường

Phật Chí cầu pháp thù thắng

Vì nói hạnh Duyên-giác

Nếu lại có Phật tử

Tu-tập các công hạnh

Để cầu huệ vô thượng

Phật vì nói tịnh đạo.

11.-Ngài Văn-Thù Sư-Lợi!

Tôi ở tại nơi đây

Thấy nghe dường ấy đó

Và nghìn ức việc khác

Thấy rất nhiều như thế

Nay sẽ lược nói ra:

12.- Tôi thấy ở cõi kia

Có hằng sa Bồ-Tát

Dùng các món nhân duyên

Mà cầu chứng Phật đạo.

Hoặc có vị bố-thí

Vàng, bạc, ngọc, san-hô,

Trân châu, ngọc như-ý,

Ngọc, xa-cừ, mã-não,

Kim-cương các trân-bửu

Cùng tôi tớ, xe cộ

Kiệu, cán chưng châu báu

Vui vẻ đem bố thí

Hồi hướng về Phật đạo

Nguyện được chứng thừa ấy

Bậc nhất của ba cõi

Các Phật hằng khen ngợi.

Hoặc có vị Bồ-Tát

Xe tứ mã xe báu

Bao lơn che tàn đẹp

Trau tria dùng bố thí.

Lại thấy có Bồ-Tát

Bố thí cả vợ con

Thân thịt cùng tay chân

Để cầu vô thượng đạo.

Lại thấy có Bồ-Tát

Đầu, mắt và thân thể

Đều ưa vui thí cho

Để cầu trí huệ Phật.

13.-Ngài Văn-Thù Sư Lợi!

Ta thấy các Quốc-vương

Qua đến chỗ của Phật

Thưa hỏi đạo vô thượng

Bèn bỏ nước vui vẻ

Cung điện cả thần thiếp

Cạo sạch râu lẫn tóc

Mà mặc y pháp phục.

Hoặc lại thấy Bồ-Tát

Mà hiện làm Tỳ-kheo

Một mình ở vắng vẻ

Ưa vui tụng kinh điển

Cũng thấy có Bồ-Tát

Dõng mãnh và tinh tấn

Vào ở nơi thâm sơn

Suy xét mối Phật đạo

Và thấy bậc ly dục

Thường ở chỗ không nhàn

Sâu tu các thiền định

Được năm món thần thông

Và thấy vị Bồ-Tát

Chắp tay trụ thiền định

Dùng ngàn vạn bài kệ

Khen ngợi các Pháp-vương

Lại thấy có Bồ-Tát

Trí sâu chí bền chắc

Hay hỏi các đức Phật

Nghe rồi đều thọ trì.

Lại thấy hàng Phật tử

Định huệ trọn đầy đủ

Dùng vô lượng tỉ dụ

Vì chúng mà giảng pháp

Vui ưa nói các pháp

Dạy bảo các Bồ-Tát

Phá dẹp chúng binh ma

Mà đánh rền trống pháp

Cùng thấy vị Bồ-Tát

Vắng bặt yên lặng ngồi

Trời, rồng đều cung-kính

Chẳng lấy đó làm mừng,

Và thấy có Bồ-Tát

Ở rừng phóng hào quang

Cứu khổ chốn địa ngục

Khiến đều vào Phật đạo.

Lại thấy hàng Phật tử

Chưa từng có ngủ nghỉ

Kinh hành ở trong rừng

Siêng năng cầu Phật đạo

Cũng thấy đủ giới đức

Uy nghi không thiếu sót

Lòng sạch như bảo châu

Để cầu chứng Phật đạo.

Và thấy hàng Phật tử

Trụ vào sức nhẫn nhục

Bị kẻ tăng-thượng-mạn

Mắng rủa cùng đánh đập

Thảy đều hay nhẫn được

Để cầu chứng Phật đạo

Lại thấy có Bồ-Tát

Xa rời sự chơi cười

Và quyến thuộc ngu si

Ưa gần gũi người trí

Chuyên tâm trừ loạn động

Nhiếp niệm ở núi rừng

Trải ức nghìn muôn năm

Để cầu được Phật đạo.

14.-Lại thấy vị Bồ-Tát

Đồ ăn uống ngọt ngon

Cùng trăm món thuốc thang

Đem cúng Phật và Tăng,

Áo tốt đồ thượng phục

Giá đáng đến nghìn muôn

Hoặc là vô giá y

Đem cúng Phật và Tăng

Dùng nghìn muôn ức thứ

Nhà báu bằng Chiên đàn

Các giường nằm tốt đẹp

Để cúng Phật cùng Tăng

Rừng vườn rất thanh tịnh

Bông trái đều sum sê

Suối chảy cùng ao tắm

Cúng cho Phật và Tăng,

Cúng thí như thế đó

Các đồ cúng tốt đẹp

Vui vẻ không hề nhàm

Để cầu đạo vô thượng.

15.-Lại có vị Bồ-Tát

Giảng nói pháp tịch diệt

Dùng các lời dạy dỗ

Dạy vô số chúng sinh

Hoặc thấy vị Bồ-Tát

Quán sát các pháp tịnh

Đều không có hai tướng

Cũng như khoảng hư không

Lại thấy hàng Phật tử

Tâm không chỗ mê đắm

Dùng món diệu huệ này

Mà cầu đạo vô thượng.

16.-Ngài Văn-Thù Sư-Lợi!

Lại có vị Bồ-Tát

Sau khi Phật diệt độ

Cúng dường Xá-Lợi-Phật.

Lại thấy hàng Phật tử

Xây dựng các tháp miếu

Nhiều vô số hằng sa

Nghiêm sức khắp cõi nước.

Bảo tháp rất cao đẹp

Đều năm nghìn do tuần.

Bề ngang rộng xứng nhau

Đều hai nghìn do tuần.

Trong mỗi mỗi tháp miếu

Đều có ngàn tràng phan

Màn châu xen thả xuống

Tiếng linh báu hòa reo

Các vị trời, rồng, thần,

Người cùng với phi nhân

Hương, hoa, cùng kỹ nhạc

Thường đem đến cúng dường

Ngài Văn-Thù Sư-Lợi!

Các hàng Phật tử kia

Vì cúng dường xá-lợi

Nên trang sức tháp miếu,

Cõi quốc giới tự nhiên

Thù đặc rất tốt đẹp

Như cây Thiên-thụ-vương

Hoa kia đang xòe nở

17.-Phật phóng một luồng sáng

Ta cùng cả chúng hội

Thấy nơi cõi nước này

Các thứ rất tốt đẹp

Thần lực của Chư Phật

Trí huệ đều hi hữu

Phóng một luồng tịnh-quang

Soi khắp vô lượng cõi

Chúng ta thấy việc này

Được điều chưa từng có.

18.- Xin Phật tử Văn-Thù

Giải quyết lòng chúng nghi

Bốn chúng đều mong ngóng

Nhìn Ngài và nhìn ta

Đức Thế-Tôn cớ chi

Phóng ánh quang minh này?

Phật tử phải thời đáp

Quyết nghi cho chúng mừng

Có những lợi ích gì

Đức Phật phóng quang này?

Khi Phật ngồi đạo tràng

Chứng được pháp thâm diệu

Vì muốn nói Pháp đó

Hay là sẽ thọ ký?

Hiện bày các cõi Phật

Các báu sạch trang nghiêm

Cùng thấy các đức Phật

Đây không phải cớ nhỏ

Ngài Văn-Thù nên biết

Bốn chúng và Long, Thần

Nhìn xem xét Ngài đó

Mong sẽ nói những gì?

19.- Lúc bấy giờ, Ngài Văn-Thù Sư-Lợi nói với Ngài Di-Lặc Đại Bồ-Tát cùng các vị Đại-sĩ: “Các Thiện-nam-tử! Như chỗ tôi xét nghĩ thì nay đức Phật Thế-Tôn muốn nói pháp lớn, mưa pháp vũ lớn, thổi pháp loa lớn, đánh pháp cổ lớn và diễn pháp nghĩa lớn. Các thiện-nam-tử! Ta từng ở nơi các đức Phật đời quá khứ thấy điềm lành này, Phật kia phóng hào quang đó rồi liền nói pháp lớn. Cho nên chắc biết rằng hôm nay đức Phật hiện hào quang cũng lại như vậy. Phật vì muốn cho chúng sinh đều được nghe biết pháp mầu mà tất cả trong đời khó tin theo, cho nên hiện điềm lành này.

20.- Các thiện-nam-tử! Như vô lượng vô biên a-tăng-kỳ28 kiếp về trước. Bấy giờ có đức Phật hiệu Nhật-Nguyệt Đăng-Minh Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự Trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn, diễn nói chánh pháp. Ban đầu, giữa, rốt sau ba chặng đều lành, nghĩa lý rất sâu xa, lời lẽ khéo mầu, thuần một không tạp, đầy đủ cả tướng phạm hạnh thanh bạch. Phật, vì người cầu đạo Thanh-văn, nói pháp Tứ-đế29 thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết, cứu cánh Niết-bàn. Vì hạng cầu quả Duyên-giác, nói pháp Mười-hai-nhân- duyên30, vì hàng Bồ-Tát nói sáu pháp Ba- la-mật 31 làm cho chứng được quả vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác thành bậc nhứt- thiết chủng-trí32Kế lại có đức Phật cũng hiệu Nhật- Nguyệt Đăng-Minh, lại có đức Phật cũng hiệu Nhật-Nguyệt Đăng-Minh. Như thế đến hai muôn đức Phật đều đồng một tên, hiệu Nhật-Nguyệt Đăng-Minh, lại cùng đồng một họ, họ Phả-La-Đọa. Di-Lặc nên biết! Đức Phật trước, đức Phật sau đều đồng một tên, hiệu Nhật- Nguyệt Đăng-Minh, đầy đủ mười hiệu, những pháp được nói ra, đầu, giữa, sau đều lành. Đức Phật rốt sau cả, lúc chưa xuất-gia có tám vị vương- tử: Người thứ nhất tên Hữu-Ý, thứ hai tên Thiện-Ý, thứ ba tên Vô-Lượng-Ý, thứ tư tên Bửu-Ý, thứ năm tên Tăng-Ý, thứ sáu tên Trừ-Nghi-Ý, thứ bảy tên Hưởng-Ý, thứ tám tên Pháp-Ý. Tám vị vương- tử đó có uy đức tự tại đều lãnh trị bốn châu thiên hạ33. Nghe vua cha xuất gia chứng đạo vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác đều bỏ ngôi vua cũng xuất-gia theo, phát tâm Đại thừa, thường tu hạnh thanh tịnh, đều làm bậc pháp sư, thuở trước đã từng ở chỗ nghìn muôn đức Phật vun trồng các cội lành.

21.- Đức Phật Nhật-Nguyệt Đăng-Minh lúc đó nói kinh Đại thừa tên “Vô-Lượng Nghĩa-Xứ” là pháp giáo hoá Bồ-Tát được Chư Phật hộ niệm. Nói kinh đó rồi, Phật liền ở trong đại chúng ngồi xếp bằng nhập vào cảnh chánh định “Vô-Lượng Nghĩa- Xứ”, thân và tâm chẳng động.

22.- Khi ấy trời mưa hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha Mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa cùng hoa Ma-ha Mạn-thù-sa để rải trên đức Phật và hàng đại-chúng. Khắp cõi nước Phật sáu điệu vang động. Lúc đó trong hội, hàng Tỳ-kheo, Tỳ- kheo-ni, cận-sự nam, cận-sự nữ, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhân, phi-nhân cùng các vị tiểu vương, các vị Chuyển- luân thánh-vương v.v... các đại-chúng đó được điều chưa từng có, mừng rỡ chắp tay một lòng nhìn Phật.

23.- Bấy giờ, đức Như-Lai từ tướng lông trắng chặn giữa chân mày phóng ra luồng ánh sáng soi khắp cùng cả một muôn tám nghìn cõi nước ở phương đông, như nay đương thấy ở cõi Phật đây.

Di-Lặc nên biết! Khi đó trong hội, có hai mươi ức Bồ-Tát ưa muốn nghe pháp, các vị Bồ-Tát ấy thấy ánh sáng chiếu khắp các cõi Phật được điều chưa từng có, đều muốn biết vì duyên cớ gì mà phóng ánh- sáng này. Khi ấy, có vị Bồ-Tát hiệu Diệu-Quang có tám trăm người đệ-tử.

24.- Bấy giờ, đức Phật Nhật-Nguyệt Đăng-Minh từ trong chánh-định mà dậy, vì Diệu-Quang Bồ-Tát nói kinh Đại-thừa tên “Diệu-Pháp Liên-Hoa” là pháp giáo hoá Bồ-Tát được Chư Phật hộ niệm, trải qua sáu mươi tiểu kiếp chẳng rời chỗ ngồi.

25.- Lúc ấy trong hội, người nghe pháp cũng ngồi một chỗ đến sáu mươi tiểu kiếp thân tâm đều không lay động, nghe đức Phật nói pháp cho là như trong khoảng bữa ăn. Bấy giờ trong chúng không có một người nào hoặc là thân hoặc là tâm mà sinh lười mỏi.

26.- Đức Phật Nhật-Nguyệt Đăng-Minh trong sáu mươi tiểu kiếp nói kinh đó rồi, liền ở trong chúng Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, và Trời, Người, A-tu-la mà tuyên rằng: “Hôm nay vào nửa đêm, Như- Lai sẽ nhập Vô-dư Niết-bàn”. Khi đó có vị Bồ-Tát, tên Đức-Tạng, đức Phật Nhật-Nguyệt Đăng-Minh liền thọ-ký34 cho, bảo các Tỳ-kheo rằng: “Ông Đức-Tạng Bồ-Tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Tịnh-Thân Như-Lai Ứng- cúng, chánh-đẳng chánh-giác”. Đức Phật thọ ký xong, vào nửa đêm bèn nhập Vô-dư Niết-bàn.

27.- Sau khi đức Phật diệt-độ, Diệu- Quang Bồ-Tát trì kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” trải tám mươi tiểu kiếp vì người mà diễn nói.

28.- Tám người con của Phật Nhật- Nguyệt Đăng-Minh đều học với ngài Diệu- Quang, ngài Diệu-Quang dạy bảo cho đều vững bền ở nơi đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Các vị Vương-tử đó cúng dường vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật đều thành Phật-đạo. Vị thành Phật rốt sau hết, hiệu là Nhiên-Đăng.

29.- Trong hàng tám trăm người đệ-tử có một người tên: Cầu-Danh, người này tham ưa danh lợi, dầu cũng đọc tụng các kinh mà chẳng thuộc rành, phần nhiều quên mất, nên gọi là Cầu-Danh. Người này cũng do có trồng các nhân duyên căn lành nên được gặp vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật mà cúng dường cung kính tôn trọng khen ngợi.

30.- Di-Lặc nên biết! Lúc đó Diệu- Quang Bồ-Tát đâu phải người nào lạ, chính là ta đấy. Còn Cầu-Danh Bồ-Tát là ngài đấy. Nay thấy điềm lành này, cùng với xưa không khác, cho nên ta xét nghĩ hôm nay đức Phật Như-Lai sẽ nói kinh Đại-thừa tên: “Diệu-Pháp Liên-Hoa” là pháp giáo hoá Bồ-Tát được Chư Phật hộ niệm. Bấy giờ, ngài Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát ở trong đại-chúng, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

31.- Ta nhớ thuở quá khứ

Vô lượng vô số kiếp

Có Phật Nhân Trung-Tôn

Hiệu Nhật-Nguyệt Đăng-Minh

Đức Thế-Tôn nói pháp

Độ vô lượng chúng sinh

Vô số ức Bồ-Tát

Khiến vào trí huệ Phật.

32.-Khi Phật chưa xuất gia

Có sinh tám vương-tử

Thấy Đại-Thánh xuất gia

Cũng theo tu phạm-hạnh

33.-Phật nói kinh Đại-thừa

Tên là “Vô-Lượng-Nghĩa”

Ở trong hàng đại chúng

Mà vì rộng tỏ bày.

Phật nói kinh ấy rồi

Liền ở trong pháp tòa

Xếp bằng nhập chánh định

Tên “Vô-Lượng-Nghĩa-Xứ”

Trời rưới hoa Mạn-đà

Trống trời tự nhiên vang

Các trời, rồng, quỉ, thần

Cúng dường đấng Nhân-Tôn,

Tất cả các cõi Phật

Tức thời vang động lớn,

34.-Phật phóng sáng giữa mày

Hiện các việc hi hữu

Ánh sáng chiếu phương

Đông Muôn tám nghìn cõi

Phật Bày sinh tử nghiệp báo

Của tất cả chúng sinh

Lại thấy các cõi Phật

Dùng các báu trang nghiêm

Màu lưu ly, pha lê

Đây bởi Phật quang soi.

35.-Lại thấy những trời, người

Rồng, thần, chúng Dạ-xoa

Càn-thát, Khẩn-na-la

Đều cúng dường Phật mình.

36.-Lại thấy các Như-Lai

Tự nhiên thành Phật đạo,

Màu thân như núi vàng

Đoan nghiêm rất đẹp mầu

Như trong lưu ly sạch

Hiện ra tượng chân kim

Thế-Tôn trong đại chúng

Dạy nói nghĩa thâm diệu.

37.-Mỗi mỗi các cõi Phật

Chúng Thanh-văn vô số,

Nhân Phật-quang soi sáng

Đều thấy đại-chúng kia.

Hoặc có các Tỳ-kheo

Ở tại trong núi rừng

Tinh tấn giữ tịnh giới

Dường như gìn châu sáng.

38.- Lại thấy các Bồ-Tát

Bố thí nhẫn nhục thảy

Số đông như hằng sa35

Đây bởi sáng Phật soi.

Lại thấy hàng Bồ-Tát

Sâu vào các thiền định

Thân tâm lặng chẳng động

Để cầu đạo vô thượng.

Lại thấy các Bồ-Tát

Rõ tướng pháp tịch diệt

Đều ở tại nước mình

Nói pháp cầu Phật đạo.

39.-Bấy giờ bốn bộ chúng

Thấy Phật Nhật-Nguyệt-Đăng

Hiện sức thần thông lớn

Tâm kia đều vui mừng

Mỗi người tự hỏi nhau

Việc này nhân-duyên gì?

40.- Đấng của trời người thờ

Vừa từ chánh-định dậy

Khen Diệu-Quang Bồ-Tát

Ông là mắt của đời

Mọi người đều tin về

Hay vâng giữ tạng pháp

Như pháp của ta nói

Chỉ ông chứng biết được

Đức Phật đã ngợi khen

Cho Diệu-Quang vui mừng

Liền nói kinh Pháp-Hoa

Trải sáu mươi tiểu kiếp

Chẳng rời chỗ ngồi ấy

Ngài Diệu-Quang Pháp-sư

Trọn đều hay thọ trì

Pháp thượng diệu của Phật.

41.-Phật nói kinh Pháp-Hoa

Cho chúng vui mừng rồi

Liền chính trong ngày đó

Bảo hàng chúng trời, người

Các pháp “nghĩa thật tướng”

Đã vì các ông nói

Nay ta ở giữa đêm

Sẽ vào cõi Niết-bàn

Phải một lòng tinh tấn

Rời các sự buông lung Các Phật rất khó gặp Ức kiếp được một lần.

42.-Các con của Phật thảy

Nghe Phật sắp nhập diệt

Thảy đều lòng buồn khổ

Sao Phật gấp Niết-bàn?

Đấng Thánh-chúa-Pháp-vương

An ủi vô lượng chúng:

Nếu lúc ta diệt độ

Các ông chớ lo sợ

Đức-Tạng Bồ-Tát đây

Tâm đã được thông thấu

Nơi vô lậu thiệt tướng

Kế đây sẽ thành Phật

Tên hiệu là Tịnh-Thân

Cũng độ vô lượng chúng.

43.-Đêm đó Phật diệt độ

Như củi hết, lửa tắt

Chia phân các xá-lợi

Mà xây vô lượng tháp

Tỳ- kheo, Tỳ-kheo-ni

Số đông như hằng sa

Lại càng thêm tinh tấn

Để cầu đạo vô thượng.

44.-Diệu-Quang Pháp-sư ấy

Vâng giữ Phật Pháp tạng

Trong tám mươi tiểu kiếp.

Rộng nói kinh Pháp-Hoa.

Tám vị vương-tử đó

Được Diệu-Quang dạy bảo

Vững bền đạo vô-thượng

Sẽ thấy vô số Phật

Cúng dường các Phật xong

Thuận theo tu đại đạo

Nối nhau đặng thành Phật

Chuyển thứ thọ ký nhau,

Đấng Phật rốt sau cả

Hiệu là: Phật Nhiên-Đăng

Đạo-Sư36 của thiên tiên

Độ thoát vô lượng chúng.

45.- Diệu-Quang Pháp-sư đó

Có một người đệ tử

Tâm thường hay biếng trễ

Tham ưa nơi danh lợi

Cầu danh lợi không nhàm

Thường đến nhà sang giàu

Rời bỏ việc tụng học

Bỏ quên không thông thuộc

Vì bởi nhân duyên ấy

Nên gọi là Cầu-Danh

Cũng tu các nghiệp lành

Được thấy vô số Phật

Cúng dường các đức Phật

Thuận tu theo đại đạo

Đủ sáu ba-la-mật

Nay gặp đấng Thích-Ca

Sau đây sẽ thành Phật

Hiệu là: “Phật Di-Lặc

Rộng độ khắp chúng sinh

Số đông đến vô lượng.

46.-Sau Phật kia diệt độ

Lười biếng đó là

Ngài Còn Diệu-Quang Pháp-sư

Nay thời chính là Ta.

Ta thấy Phật Đăng-Minh

Điềm sáng trước như thế

Cho nên biết rằng nay

Phật muốn nói “Pháp-Hoa”

Tướng nay như điềm xưa.

Là phương tiện của Phật

Nay Phật phóng ánh sáng

Giúp bày nghĩa thiệt tướng

Các người nay nên biết

Chắp tay một lòng chờ

Phật sẽ rưới nước pháp

Đầy đủ người cầu đạo

Các người cầu ba thừa37

Nếu có chỗ nghi hối

Phật sẽ dứt trừ cho

Khiến hết không còn thừa.”

Thích Nghĩa

  1. KINH: Pháp thường, mười phương ba đời các đức Phật đều nói như vậy. Nói đủ là “Khế Kinh” nghĩa là “pháp thường khế hiệp chân lý cùng khế hiệp căn cơ chúng sinh”. DIỆU-PHÁP LIÊN- HOA: Pháp mầu khó nghĩ lường, thắng hơn tất cả pháp. Kinh pháp nầy là bậc nhất trong kinh pháp khác của Phật nói, dụ như hoa sen, vì hoa sen sánh với hoa khác có 5 điều đặc biệt: a.- Có hoa là có gương: nhân quả đồng thời.

b.- Mọc trong bùn lầy mà vẫn trong sạch thơm tho.

c.- Cọng hoa từ gốc tách riêng không chung cành với lá.

d.- Ong và bướm không bu đậu.

e.- Không bị người dùng làm trang điểm (xưa đàn bà Ấn Độ quen dùng hoa kết thành tràng để đeo đội v.v...)

  1. 9. Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni.
  2. 10.Các điều vọng lầm hay làm lọt mất công đức lành.
  3. 11.Tự mình đã được thoát khỏi khổ sinh tử luân hồi.
  4. 12.Ba Cõi: Cõi dục, cõi sắc, cõi vô-sắc.
  5. 13.Từ quả A-na-hàm trở xuống chưa được giải thoát còn phải học tập nên gọi “HỮU-HỌC”. Quả A-la-hán đã được giải thoát, về trong Tiểu-thừa-pháp, thì không còn phải học nữa nên gọi “VÔ- HỌC”.
  6. 14.Quả chứng của Phật.
  7. 15.TỔNG TRÌ: Gồm nhiếp các Pháp.
  8. 16.Tài biện luận ưa giảng nói pháp.
  9. 17.Chỗ rốt ráo, trọn vẹn, nên xong hoàn toàn.
  10. 18.Tên của vị vua 33 nước trời Đao-Lợi ở trên đỉnh núi Tu-Di.
  11. 19.Ba thứ tiếng vang dội và 3 thứ rung động của hình sắc.
  12. 20.CÀN THÁT BÀ: Phạm: Gandharva, Pàli: gandhabba, Tây tạng: dri-za. Còn gọi là Kiện đạt phọc, Ngạn đạt bà, Càn đạp hòa

v.v... là vị thần hầu hạ trời Đế thích, cùng với Khẩn na la tấu âm nhạc. Cũng gọi là Tầm hương thần, Nhạc thần, Chấp nhạc thiên. Là một trong tám bộ chúng.

  1. 21.A tu la, thần phi-thiên: có phước như trời mà đức kém thua trời. 阿修羅, s. asura: ác thần tính nóng nảy hung dữ, nam thì hình dung xấu xa nữ thì dung mạo rất đẹp.
  2. 22.Ca lâu la, 迦樓羅, s. garuda: chim cánh vàng (kim sí điểu).
  3. 23.Khẩn-na-la (zh. 緊那羅, sa. kinnara) chúng: thần ca hát của trời Đế Thích, chẳng phải người chẳng phải không phải thần (mình người đầu có sừng); Các loài thần hầu hạ cõi Đao-Lợi.
  4. 24.Ma-hầu-la-già, 摩睺羅迦, s. mahoraga: rắn thần, vua các loài rắn.
  5. 25.Sáu loài chúng sinh: 1) Trời; 2) Người; 3) A-tu-la; 4) Thú; 5) Quỉ; 6) Địa ngục.
  6. 26.Phật là vua pháp (Pháp-vương). Bồ-Tát cũng như con của Phật nên là: Pháp vương tử.
  7. 27.Người thọ tam quy ngũ-giới tu tại-gia gần gũi hộ thờ Tam-Bảo nên gọi cận-sự, đàn ông là Cận sự nam, đàn bà là Cận sự nữ, ta quen gọi là “cư-sĩ”.
  8. 28.Vô số (một số lớn). Kiếp có: Tiểu-kiếp, trung-kiếp, đại-kiếp.
  • Một tiểu-kiếp có 16.798.000 năm.
  • Một trung-kiếp có 20 tiểu-kiếp.
  • Một đại-kiếp có 4 trung-kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không.
  1. 29.Tứ đế: 1) Khổ-đế. 2) Tập-đế. 3) Diệt-đế. 4) Đạo-đế.
  2. 30.Mười hai nhân duyên: 1-Vô-minh; 2-Hành; 3-Thức; 4-Danh sắc; 5-Lục nhập. 6-Xúc; 7-Thọ. 8-Ái; 9-Thủ; 10-Hữu; 11-Sinh; 12-Lão-tử. Mười hai món này làm nhân duyên lẫn nhau.
  3. 31.Cũng gọi là 6 độ: 1) Bố-thí-độ; 2) Trì-giới-độ; 3) Nhẫn-nhục- độ; 4) Tinh-tấn-độ. 5) Thiền-định-độ; 6) Trí-huệ- độ.
  4. 32.Trí của Phật.
  5. 33.Bốn châu: 1) Đông-thắng-thần-châu. 2) Nam-thiệm-bộ-châu (quả địa-cầu). 3) Tây-ngưu-hóa-châu. 4) Bắc-câu-lô-châu.
  6. 34.Thọ-ký:Trao cho lời ghi chắc về sau, bao nhiêu năm cõi nào sẽ thành Phật hiệu là v.v...
  7. 35.Sông Hằng một con sông lớn xứ Ấn-Độ, trong sông và hai bờ có nhiều cát rất mịn, trong kinh thường dùng số cát ấy để chỉ một số đông nhiều.
  8. 36.Đạo sư: Bậc hướng dẫn đưa mọi người vào đạo Phật. Tên gọi của Đức Phật và Bồ-tát.
  9. 37.Thanh-văn thừa, Duyên-giác thừa, Phật-thừa.
 

  

 Kinh Diệu Pháp Liên Hoa             

PHẨM “PHƯƠNG TIỆN”[1] THỨ HAI

1.-Lúc bấy giờ, đức Thế-Tôn từ chánh định an lành mà dậy, bảo ngài Xá-Lợi- Phất: “Trí-huệ của các đức Phật rất sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu khó vào, tất cả hàng Thanh-văn cùng Bích-chi-Phật đều không biết được. Vì sao? Phật đã từng gần gũi trăm nghìn muôn ức, vô số các đức Phật, trọn tu vô lượng đạo pháp của các đức Phật, dõng mãnh tinh tấn, danh tốt đồn khắp, trọn nên pháp rất sâu chưa từng có, theo thời nghi mà nói pháp ý thú khó hiểu. Xá-Lợi-Phất! Từ ta thành Phật đến nay, các món nhân duyên, các thứ thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện dìu dắt chúng sinh, làm cho xa lìa lòng chấp. Vì sao? Đức Như-Lai đã đầy đủ phương tiện, tri kiến và ba-la-mật.

Xá-Lợi-Phất! Tri kiến của Như-Lai rộng lớn sâu xa, đức vô lượng vô-ngại-lực, vô-sở-úy, thiền-định, giải-thoát tam-muội, đều sâu vào không ngằn mé, trọn nên tất cả pháp chưa từng có.

Xá-Lợi-Phất! Như-Lai hay các món phân biệt, khéo nói các pháp lời lẽ êm dịu vui đẹp lòng chúng.

Xá-Lợi-Phất! Tóm yếu mà nói đó, vô lượng vô biên pháp vị tằng hữu, đức Phật thảy đều trọn nên.

2.-Thôi Xá-Lợi-Phất! Chẳng cần nói nữa. Vì sao? Vì pháp khó hiểu ít có thứ nhất mà Phật trọn nên đó, chỉ có Phật cùng Phật mới có thể thấu tột tướng chân thật của các pháp, nghĩa là các pháp: tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy,

duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy.

Bấy giờ, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói bài kệ rằng:

3.-Đấng Thế-Hùng khó lường

Các trời cùng người đời

Tất cả loài chúng sinh

Không ai hiểu được Phật

Trí-lực, vô-sở-úy

Giải thoát các tam-muội

Các pháp khác của Phật

Không ai so lường được

Vốn từ vô số Phật

Đầy đủ tu các đạo

Pháp nhiệm mầu rất sâu

Khó thấy khó rõ được

Trong vô lượng ức kiếp

Tu các đạo đó rồi

Đạo tràng được chứng quả

Ta đều đã thấy biết

Quả báo lớn như vậy

Các món tánh tướng nghĩa

Ta cùng mười phương Phật

Mới biết được việc đó

4.-Pháp đó không chỉ được

Vắng bặt tướng nói năng

Các loài chúng sinh khác

Không có ai hiểu được

Trừ các chúng Bồ-Tát

Người sức tin bền chặt

Các hàng đệ tử Phật

Từng cúng dường các Phật

Tất cả lậu đã hết

Trụ thân rốt sau này

Các hạng người vậy thảy

Sức họ không kham được,

Giả sử đầy thế gian

Đều như Xá-Lợi-Phất

Cùng suy chung so lường

Chẳng lường được Phật trí

Chính sử khắp mười phương

Đều như Xá-Lợi-Phất

Và các đệ-tử khác

Cũng đầy mười phương cõi

Cùng suy chung so lường

Cũng lại chẳng biết được.

Bậc Duyên-giác trí lành

Vô lậu thân rốt sau

Cũng đầy mười phương cõi

Số đông như rừng tre,

Hạng này chung một lòng

Trong vô lượng ức kiếp

Muốn xét Phật thật trí

Chẳng biết được chút phần.

Bồ-Tát mới phát tâm

Cúng dường vô số Phật

Rõ thấu các nghĩa thú

Lại hay khéo nói pháp

Như lúa, mè, tre, lau

Đong đầy mười phương cõi

Một lòng dùng trí mầu

Trải số kiếp hằng sa

Thảy đều chung suy lường

Chẳng biết được trí Phật

Hàng bất-thối Bồ-Tát

Số đông như hằng sa

Một lòng chung suy cầu

Cũng lại chẳng hiểu được.

5.-Lại bảo Xá-Lợi-Phất

Pháp nhiệm mầu rất sâu

Vô lậu khó nghĩ bàn

Nay ta đã được đủ

Chỉ ta biết tướng đó

Mười phương Phật cũng vậy,

Xá-Lợi-Phất phải biết

Lời Phật nói không khác

Với Pháp của Phật nói

Nên sinh sức tin chắc

Pháp của Phật lâu sau

Cần phải nói chân thật

Bảo các chúng Thanh-văn

Cùng người cầu Duyên-giác

Ta khiến cho thoát khổ

Đến chứng được Niết-bàn

Phật dùng sức phương tiện

Dạy cho ba thừa giáo

Chúng sinh nơi nơi chấp

Dắt đó khiến ra khỏi.

6.-Khi đó trong đại chúng có hàng Thanh-văn lậu tận A-la-hán, ngài A-Nhã Kiều-Trần-Như v.v... một nghìn hai trăm người và các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự- nam cùng cận-sự-nữ, hạng người phát tâm Thanh-văn, Duyên-giác đều nghĩ rằng: “Hôm nay đức Phật cớ chi lại ân cần ngợi khen phương tiện mà nói thế này: Pháp của Phật chứng rất sâu khó hiểu, tất cả hàng Thanh-văn cùng Duyên-giác không thể đến được.” Đức Phật nói một nghĩa giải thoát, chúng ta cũng chứng được pháp đó đến nơi Niết-bàn, mà nay chẳng rõ nghĩa đó về đâu?

7.-Lúc ấy, ngài Xá-Lợi-Phất biết lòng nghi của bốn chúng, chính mình cũng chưa rõ, liền bạch Phật rằng: “Thưa Thế- Tôn! Nhân gì duyên gì mà Phật ân cần khen ngợi pháp phương-tiện thứ nhất nhiệm mầu rất sâu khó hiểu của các đức Phật? Con từ trước đến nay chưa từng nghe Phật nói điều đó, hôm nay bốn chúng thảy đều có lòng nghi. Cúi xin đức Thế- Tôn bày nói việc đó. Cớ gì mà đức Thế- Tôn ân cần khen ngợi pháp nhiệm mầu rất sâu khó hiểu? Khi đó ngài Xá-Lợi- Phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8.-Đấng Huệ-Nhật Đại-thánh

Lâu mới nói pháp này,

Tự nói pháp mình chứng

Lực, vô-úy, tam-muội,

Thiền-định, giải-thoát thảy

Đều chẳng nghĩ bàn được.

Pháp chứng nơi đạo tràng

Không ai hỏi đến được,

Ý con khó lường được

Cũng không ai hay hỏi. 

Không hỏi mà tự nói 

Khen ngợi đạo mình làm

Các đức Phật chứng được

Trí huệ rất nhiệm mầu.

Hàng vô-lậu La-hán

Cùng người cầu Niết-bàn

Nay đều sa lưới nghi

Phật cớ chi nói thế?

Hạng người cầu Duyên-giác.

Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,

Các trời, rồng, quỉ, thần

Và Càn-thát-bà thảy

Ngó nhau mang lòng nghi

Nhìn trông đấng Túc-Tôn,

Việc đó là thế nào

Xin Phật vì dạy cho?

Trong các chúng Thanh-văn

Phật nói con hạng nhất

Nay con nơi trí mình

Nghi lầm không rõ được

Vì là pháp rốt ráo

Vì là đạo Phật làm

Con từ miệng Phật sinh

Chắp tay nhìn trông chờ

Xin ban tiếng nhiệm mầu

Liền vì nói như thật

Các trời, rồng, thần thảy

Số đông như hằng sa

Bồ-Tát cầu thành Phật

Số nhiều có tám muôn

Lại những muôn ức nước

Vua Chuyển-Luân-vương đến

Đều lòng kính chắp tay

Muốn nghe đạo đầy đủ.

9.-Khi đó đức Phật bảo ngài Xá-Lợi- Phất: Thôi thôi! Chẳng nên nói nữa, nếu nói việc đó tất cả trong đời các trời và người đều sẽ kinh sợ nghi-ngờ.”

10.-Ngài Xá-Lợi-Phất lại bạch Phật rằng: “Thưa Thế-Tôn! Cúi xin nói đó, cúi xin nói đó. Vì sao? Trong hội đây có vô số trăm nghìn muôn ức a-tăng-kỳ chúng-sinh đã từng gặp các đức Phật, các căn mạnh lẹ, trí huệ sáng suốt, được nghe Phật dạy chắc có thể kính tin”. Lúc ấy, ngài Xá-Lợi-Phất muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

Đấng Pháp-Vương vô thượng

Xin nói nguyện đừng lo

Vô lượng chúng hội đây

Có người hay kính tin.

11.-Đức Phật lại ngăn Xá-Lợi-Phất: “Nếu nói việc đó thì tất cả trong đời, trời, người, A-tu-la đều sẽ nghi sợ, Tỳ-kheo tăng-thượng-mạn sẽ phải sa vào hầm lớn.” Khi đó đức Thế-Tôn nói kệ rằng:

Thôi thôi! Chẳng nên nói

Pháp ta diệu khó nghĩ

Những kẻ tăng-thượng-mạn

Nghe ắt không kính tin.

12.-Lúc ấy ngài Xá-Lợi-Phất bạch Phật rằng: “Thưa Thế-Tôn! Cúi xin Phật nói, cúi xin Phật nói. Nay trong hội này hạng người sánh bằng con có trăm nghìn muôn ức. Đời đời đã từng theo Phật học hỏi, những người như thế chắc hay kính tin lâu dài an ổn nhiều điều lợi ích. Khi đó ngài Xá-Lợi-Phất, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Đấng vô thượng Lưỡng-túc

Xin nói pháp đệ nhất

Con là trưởng tử Phật

Xin thương phân biệt nói.

Vô lượng chúng hội đây

Hay kính tin pháp này

Đời đời Phật đã từng

Giáo hóa chúng như thế

Đều một lòng chắp tay

Muốn nghe lãnh lời Phật.

Chúng con nghìn hai trăm

Cùng hạng cầu Phật nọ

Nguyện Phật vì chúng này

Cúi xin phân biệt nói

Chúng đây nghe pháp ấy

Thời sinh lòng vui mừng.

13.-Bấy giờ, đức Thế-Tôn bảo ngài Xá- Lợi-Phất: “Ông đã ân cần ba phen thưa thỉnh đâu được chẳng nói. Ông nay lóng nghe khéo suy nghĩ nhớ đó, ta sẽ vì ông phân biệt giải-nói.”

14.-Khi đức Phật nói lời đó, trong hội có các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ, cả thảy năm nghìn người, liền từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật mà lui về. Vì sao? Vì bọn người này gốc tội sâu nặng cùng tăng-thượng-mạn, chưa được mà nói đã được, chưa chứng mà cho đã chứng, có lỗi dường ấy, cho nên không ở lại. Đức Thế-Tôn yên lặng không ngăn cản.

15.-Bấy giờ, Đức Phật bảo ngài Xá- Lợi-Phất: “Trong chúng ta đây không còn cành lá, rặt có hạt chắc. Xá-Lợi-Phất! Những gã tăng-thượng-mạn như vậy lui về cũng là tốt. Ông nay nên khéo nghe, ta sẽ vì ông mà nói.” Ngài Xá-Lợi-Phất bạch rằng: “Vâng thưa Thế-Tôn! Con nguyện thích muốn nghe”.

16.-Đức Phật bảo ngài Xá-Lợi-Phất: “Pháp mầu như thế, các đức Phật Như- Lai đến khi đúng thời mới nói, đó như hoa linh- thoại đến thời tiết mới hiện một lần. Xá-Lợi-Phất! Các ông nên tin lời của Phật nói không hề hư vọng.

17.-Xá-Lợi-Phất! Các đức Phật theo thời nghi nói pháp ý-thú khó hiểu. Vì sao? Ta dùng vô số phương tiện các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp. Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các đức Phật mới biết được đó. Vì sao? Các đức Phật Thế-Tôn, chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời. Xá-Lợi-Phất! Sao nói rằng các đức Phật Thế-Tôn chỉ do một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời? Các đức Phật Thế-Tôn vì muốn cho chúng sinh khai tri kiến Phật để được thanh tịnh mà hiện ra nơi đời; vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng-sinh mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sinh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sinh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời. Xá-Lợi-Phất! Đó là các đức Phật do vì một sự nhân duyên lớn mà hiện ra nơi đời.”

18.-Đức Phật bảo Xá-Lợi-Phất: “Các đức Phật Như-Lai chỉ giáo hóa Bồ-Tát, những điều làm ra thường vì một việc: chỉ đem tri kiến Phật chỉ cho chúng sinh tỏ ngộ thôi.”

Xá-Lợi-Phất! Đức Như-Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sinh nói pháp không có các thừa hoặc hai hoặc ba khác.

Xá-Lợi-Phất! Pháp của tất cả các đức Phật ở mười phương cũng như thế.

Xá-Lợi-Phất! Thuở quá khứ các đức Phật dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sinh diễn nói các pháp. Vì pháp đó đều là một Phật thừa, nên các chúng sinh đó theo Chư Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “nhứt-thiết chủng-trí”.

Xá-Lợi-Phất! Thuở vị lai, các đức Phật sẽ ra đời cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sinh diễn nói các pháp, vì pháp ấy đều là một Phật thừa nên các chúng sinh đó theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “nhứt-thiết chủng- trí”.

Xá-Lợi-Phất! Hiện tại nay, trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi Phật ở mười phương, các đức Phật Thế-Tôn nhiều điều lợi ích an vui cho chúng sinh. Các đức Phật đó cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân-duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sinh diễn nói các pháp, vì pháp đó đều là một Phật thừa, các chúng sinh ấy theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “nhứt-thiết chủng-trí”.

Xá-Lợi-Phất! Các đức Phật đó chỉ giáo hóa Bồ-Tát, vì muốn đem tri kiến Phật mà chỉ cho chúng sinh, vì muốn đem tri kiến Phật cho chúng sinh tỏ ngộ, vì muốn làm cho chúng sinh chứng vào tri kiến Phật vậy.

Xá-Lợi-Phất! Nay ta cũng lại như thế, rõ biết các chúng sinh có những điều ưa muốn, thân tâm mê chấp, ta tùy theo bản tánh kia dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ cùng sức phương tiện mà vì đó nói pháp.

Xá-Lợi-Phất! Như thế đều vì để chứng được một Phật thừa “nhứt-thiết chủng- trí”.

19.-Xá-Lợi-Phất! Trong cõi nước ở mười phương còn không có hai thừa hà huống có ba! Xá-Lợi-Phất! Các đức Phật hiện ra trong đời ác năm trược, nghĩa là: Kiếp trược, phiền não trược, chúng sinh trược, kiến trược, mạng trược. Như thế, Xá-Lợi- Phất, lúc kiếp loạn trược chúng sinh nhơ nặng, bỏn sẻn, tham lam, ghét ganh, trọn nên các căn chẳng lành, cho nên các đức Phật dùng sức phương tiện, nơi một Phật thừa, phân biệt nói thành ba.

20.-Xá-Lợi-Phất! Nếu đệ tử ta tự cho mình là A-la-hán cùng Duyên-giác mà không nghe không biết việc của các đức Phật Như-Lai chỉ giáo hóa Bồ-Tát, người này chẳng phải đệ tử Phật, chẳng phải A- la-hán, chẳng phải Duyên-giác. Lại-nữa, Xá-Lợi-Phất! Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đó tự cho mình đã được A-la- hán, là thân rốt sau rốt ráo Niết-bàn, bèn chẳng lại chí quyết cầu đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Nên biết bọn đó là kẻ tăng-thượng-mạn. Vì sao? nếu có Tỳ- kheo thực chứng quả A-la-hán mà không tin pháp này, quyết không có lẽ ấy, trừ sau khi Phật diệt độ hiện tiền không Phật. Vì sao? Sau khi Phật diệt độ, những kinh như thế, người hay thọ trì đọc tụng hiểu nghĩa rất khó có được, nếu gặp đức Phật khác, ở trong pháp này bèn được hiểu rõ. Xá-Lợi-Phất! Các ông nên một lòng tin hiểu thọ trì lời Phật dạy. Lời các đức Phật Như-Lai nói không hư vọng, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa thôi. Khi ấy đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

21.-Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni

Mang lòng tăng-thượng-mạn

Cận-sự-nam ngã mạn

Cận-sự-nữ chẳng tin,

Hàng bốn chúng như thế

Số kia có năm nghìn

Chẳng tự thấy lỗi mình

Nơi giới có thiếu sót

Tiếc giữ tội quấy mình

Trí nhỏ đó đã ra,

Bọn cám tấm trong chúng

Oai đức Phật phải đi,

Gã đó kém phúc đức

Chẳng kham lãnh pháp này,

Chúng nay không cành lá

Chỉ có những hột chắc.

22.-Xá-Lợi-Phất khéo nghe!

Pháp của các Phật được

Vô lượng sức phương tiện

Mà vì chúng sinh nói.

Tâm của chúng sinh nghĩ

Các món đạo ra làm

Bao nhiêu những tánh dục

Nghiệp lành dữ đời trước

Phật biết hết thế rồi

Dùng các duyên thí dụ

Lời lẽ sức phương tiện

Khiến tất cả vui mừng.

Hoặc là nói Khế kinh

Cô khởi cùng Bổn-sự.

Bổn-sinh, Vị-tằng-hữu

Cũng nói những nhân duyên

Thí dụ và Trùng tụng

Luận nghị cộng chín kinh.

Căn độn ưa pháp nhỏ.

Tham chấp nơi sinh tử

Nơi vô lượng đức Phật

Chẳng tu đạo sâu mầu

Bị các khổ não loạn

Vì đó nói Niết-bàn.

Ta bày phương tiện đó

Khiến đều vào huệ Phật,

Chưa từng nói các ông

Sẽ được thành Phật đạo

Sở dĩ chưa từng nói

Vì giờ nói chưa đến,

Nay chính là đến giờ

Quyết định nói Đại-thừa.

23.-Chín bộ pháp của ta

Thuận theo chúng sinh nói

Vào Đại-thừa làm gốc

Nên mới nói kinh này.

Có Phật tử tâm tịnh

Êm dịu cũng căn lợi,

Nơi vô lượng các Phật

Mà tu đạo sâu mầu,

Vì hàng Phật tử này

Nói kinh Đại-thừa đây.

Ta ghi cho người đó

Đời sau thành Phật đạo

Bởi thâm tâm niệm Phật

Tu trì tịnh giới vậy

Hạng này nghe thành Phật

Rất mừng đầy khắp mình,

Phật biết tâm của kia.

Nên vì nói Đại-thừa.

Thanh-văn hoặc Bồ-Tát,

Nghe ta nói pháp ra

Nhẫn đến một bài kệ

Đều thành Phật không nghi.

24.-Trong cõi Phật mười phương

Chỉ có một thừa pháp

Không hai cũng không ba

Trừ Phật phương tiện nói

Chỉ dùng danh tự giả

Dắt dẫn các chúng sinh

Vì nói trí huệ Phật.

Các Phật ra nơi đời

Chỉ một việc này thật

Hai thứ chẳng phải chân.

Trọn chẳng đem tiểu thừa

Mà tế độ chúng sinh,

Phật tự trụ Đại-thừa

Như pháp của mình được

Định, huệ, lực trang nghiêm

Dùng đây độ chúng sinh.

Tự chứng đạo vô thượng

Pháp bình-đẳng Đại-thừa

Nếu dùng tiểu thừa độ

Nhẫn đến nơi một người

Thời ta đọa sân tham

Việc ấy tất không được,

Nếu người tin về Phật

Như-Lai chẳng dối gạt

Cũng không lòng tham ghen

Dứt ác trong các pháp

Nên Phật ở mười phương

Mà riêng không chỗ sợ.

Ta dùng tướng trang nghiêm

Ánh sáng soi trong đời

Đấng vô lượng chúng trọng

Vì nói thực tướng ấn.

25.-Xá-Lợi-Phất! nên biết

Ta vốn lập thệ nguyện

Muốn cho tất cả chúng

Bằng như ta không khác,

Như ta xưa đã nguyện

Nay đã đầy đủ rồi

Độ tất cả chúng sinh

Đều khiến vào Phật đạo

Nếu ta gặp chúng sinh

Dùng Phật đạo dạy cả

Kẻ vô trí rối sai

Mê lầm không nhận lời.

Ta rõ chúng sinh đó

Chưa từng tu cội lành

Chấp chặt nơi ngũ dục

si ái sinh khổ,

Bởi nhân duyên các dục.

Sa vào ba đường dữ

Xoay lăn trong sáu nẻo

Chịu đủ những khổ độc

Thân mọn thọ bào thai

Đời đời tăng trưởng luôn

Người đức mỏng ít phước

Các sự khổ bức ngặt

Vào rừng rậm tà kiến

Hoặc chấp có, chấp không

Nương gá các chấp này

Đầy đủ sáu mươi hai

Chấp chặt pháp hư vọng

Bền nhận không bỏ được

Ngã mạn tự khoe cao

Dua nịnh lòng không thực

Trong nghìn muôn ức kiếp

Chẳng nghe danh tự Phật

Cũng chẳng nghe chánh pháp

Người như thế khó độ.

26.-Cho nên Xá-Lợi-Phất!

Ta vì bày phương tiện

Nói các đạo dứt khổ

Chỉ cho đó Niết-bàn

Ta dầu nói Niết-bàn

Cũng chẳng phải thật diệt,

Các pháp từ bổn lai

Tướng thường tự vắng lặng

Phật tử hành đạo rồi

Đời sau được thành Phật

Ta có sức phương tiện

Mở bày khắp ba thừa.

Tất cả các Thế-Tôn

Đều nói đạo nhất thừa

Nay trong đại chúng này

Đều nên trừ nghi lầm

Lời Phật nói không khác

Chỉ một, không hai thừa.

27.-Vô số kiếp đã qua

Vô lượng Phật diệt độ

Trăm nghìn muôn ức Phật

Số nhiều không lường được.

Các Thế-Tôn như thế

Các món duyên thí dụ

Vô số ức phương tiện

Diễn nói các pháp tướng,

Các đức Thế-Tôn đó

Đều nói pháp nhất thừa

Độ vô lượng chúng sinh

Khiến vào nơi Phật đạo

Lại các Đại-Thánh-chúa

Biết tất cả thế gian

Trời người loài quần sinh

Thâm tâm chỗ ưa muốn

Bèn dùng phương tiện khác

Giúp bày nghĩa đệ nhất.

28.-Nếu có loài chúng sinh

Gặp các Phật quá khứ

Hoặc nghe pháp bố thí

Hoặc trì giới nhẫn nhục

Tinh tấn, thiền, trí thảy

Các món tu phước huệ,

Những người như thế đó

Đều đã thành Phật đạo

Sau các Phật diệt độ

Nếu người lòng lành dịu

Các chúng sinh như thế

Đều đã thành Phật đạo.

28.-Các Phật diệt độ rồi

Người cúng dường xá-lợi

Dựng muôn ức thứ tháp

Vàng, bạc và pha-lê

Xa-cừ cùng mã-não

Ngọc mai khôi, lưu ly

Thanh tịnh rộng nghiêm sức,

Trau giồi nơi các tháp,

Hoặc có dựng miếu đá

Chiên-đàn và trầm-thủy

Gỗ mật cùng gỗ khác

Gạch ngói bùn đất thảy,

Hoặc ở trong đồng trống

Chứa đất thành miếu Phật

Nhẫn đến đồng tử giỡn

Nhóm cát thành tháp Phật,

Những hạng người như thế

Đều đã thành Phật đạo.

30.-Nếu như người vì Phật

Xây dựng các hình-tượng

Chạm trổ thành các tướng

Đều đã thành Phật đạo.

Hoặc dùng bảy báu làm

Thau, đồng bạch, đồng đỏ

Chất nhôm cùng chì kẽm

Sắt, gỗ cùng với bùn

Hoặc dùng keo, sơn, vải

Nghiêm sức làm tượng Phật

Những người như thế đó

Đều đã thành Phật đạo

Vẽ vời làm tượng Phật

Trăm tướng phước trang nghiêm

Tự làm hoặc bảo người

Đều đã thành Phật đạo.

Nhẫn đến đồng tử giỡn

Hoặc cỏ cây và bút

Hoặc lấy móng tay mình

Mà vẽ làm tượng Phật

Những hạng người như thế

Lần lần chứa công-đức

Đầy đủ tâm đại bi

Đều đã thành Phật đạo

Chỉ dạy các Bồ-Tát

Độ thoát vô lượng chúng.

31.-Nếu người nơi tháp miếu

Tượng báu và tượng vẽ

Dùng hoa, hương, phan, lọng

Lồng kính mà cúng dường

Hoặc khiến người trổi nhạc

Đánh trống, thổi sừng ốc

Tiêu địch, cầm, không-hầu

Tỳ-bà, chụp-chả đồng

Các tiếng hay như thế

Đem dùng cúng dường hết

Hoặc người lòng vui mừng

Ca ngâm khen đức Phật

Nhẫn đến một tiếng nhỏ

Đều đã thành Phật đạo.

32.-Nếu người lòng tán loạn

Nhẫn đến dùng một hoa

Cúng dường nơi tượng vẽ

Lần thấy các đức Phật

Hoặc có người lễ lạy

Hoặc lại chỉ chắp tay

Nhẫn đến giơ một tay

Hoặc lại hơi cúi đầu

Dùng đây cúng dường tượng

Lần thấy vô lượng Phật

Tự thành đạo vô thượng

Rộng độ chúng vô số

Vào Vô dư Niết-bàn

Như củi hết lửa tắt.

Nếu người tâm tán loạn

Bước vào trong tháp chùa

Chỉ niệm Nam-mô Phật

Đều đã thành Phật đạo

Nơi các Phật quá khứ

Tại thế, hoặc diệt độ,

Có người nghe pháp này

Đều đã thành Phật đạo.

33.-Các Thế-Tôn vị lai

Số nhiều không thể lường

Các đức Như-Lai đó

Cùng phương tiện nói pháp.

Tất cả các Như-Lai

Dùng vô lượng phương tiện

Độ thoát các chúng sinh

Vào trí vô lậu Phật,

Nếu có người nghe pháp

Không ai chẳng thành Phật.

Các Phật vốn thệ nguyện

Ta tu hành Phật đạo

Khắp muốn cho chúng sinh

Cũng đồng được đạo này.

Các Phật đời vị lai

Dầu nói trăm nghìn ức

Vô số các pháp môn

Kỳ thực vì nhất thừa.

Các Phật Lưỡng-Túc-tôn

Biết pháp thường không tánh

Giống Phật theo duyên sinh

Cho nên nói nhứt thừa.

Pháp đó trụ ngôi pháp

Tướng thế gian thường còn

Nơi đạo tràng biết rồi

Đức Phật phương tiện nói.

Hiện tại mười phương Phật

Của trời người cúng dường

Số nhiều như hằng sa

Hiện ra nơi thế gian

an ổn chúng sinh

Cũng nói pháp như thế.

Biết vắng bặt thứ nhứt

Bởi dùng sức phương tiện

Dầu bày các món đạo

Kỳ thực vì Phật thừa

Biết các hạnh chúng sinh

Thâm tâm nó nghĩ nhớ

Nghiệp quen từ quá khứ

Tánh dục, sức tinh tấn

Và các căn lợi độn

Dùng các món nhân duyên

Thí dụ cùng lời lẽ

Tùy cơ phương tiện nói.

34.-Ta nay cũng như vậy

Vì an ổn chúng sinh

Dùng các món pháp môn

Rao bày nơi Phật đạo

Ta dùng sức trí huệ

Rõ tánh dục chúng sinh

Phương tiện nói các pháp

Đều khiến được vui mừng.

Xá-Lợi-Phất nên biết!

Ta dùng mắt Phật xem

Thấy sáu đường chúng sinh

Nghèo cùng không phước huệ

Vào đường hiểm sinh tử

Khổ nối luôn không dứt

Sâu tham nơi ngũ dục

Như trâu “mao” mến đuôi

Do tham ái tự che

Đui mù không thấy biết

Chẳng cầu Phật thế lớn

Cùng pháp dứt sự khổ

Sâu vào các tà kiến

Lấy khổ muốn bỏ khổ

Phật vì chúng sinh này

sinh lòng đại bi.

35.-Xưa, tu ngồi đạo tràng

Xem cây cùng kinh hành

Trong hai mươi mốt ngày

Suy nghĩ việc như vầy:

Trí huệ của ta được

Vi diệu rất thứ nhứt

Chúng sinh các căn chậm

Tham vui si làm mù

Các hạng người như thế

Làm sao mà độ được?

Bấy giờ các Phạm-vương

Cùng các trời Đế-Thích

Bốn Thiên-vương hộ đời

Và trời Đại-Tự-Tại

Cùng các thiên chúng khác

Trăm nghìn ức quyến thuộc

Chắp tay cung kính lễ

Thỉnh ta chuyển pháp-luân.

Ta liền tự suy nghĩ

Nếu chỉ khen Phật thừa

Chúng sinh chìm nơi khổ

Không thể tin pháp đó

Do phá pháp không tin

Rớt trong ba đường dữ

Ta thà không nói pháp

Mau vào cõi Niết-bàn

Liền nhớ Phật quá khứ

Thực hành sức phương tiện

Ta nay chứng được đạo

Cũng nên nói ba thừa.

36.-Lúc ta nghĩ thế đó

Mười phương Phật đều hiện

Tiếng Phạm an-ủi ta

Hay thay! đức Thích-Ca

Bậc Đạo-Sư thứ nhứt

Được pháp vô thượng ấy

Tùy theo tất cả Phật

Mà dùng sức phương tiện

Chúng ta cũng đều được

Pháp tối diệu thứ nhứt

Vì các loại chúng sinh

Phân biệt nói ba thừa.

Trí kém ưa pháp nhỏ

Chẳng tự tin thành Phật

Cho nên dùng phương tiện

Phân biệt nói các quả

Dầu lại nói ba thừa

Chỉ vì dạy Bồ-Tát.

37.-Xá-Lợi-Phất nên biết!

Ta nghe các đức Phật

Tiếng nhiệm mầu rất sạch

Xưng: “Nam-mô Chư Phật!”

Ta lại nghĩ thế này

Ta ra đời trược ác

Như các Phật đã nói

Ta cũng thuận làm theo

Suy nghĩ việc đó rồi

Liền đến thành Ba-Nại.

Các pháp tướng tịch diệt

Không thể dùng lời bày

Bèn dùng sức phương tiện

Vì năm Tỳ-kheo nói.

Đó gọi chuyển pháp luân

Bèn có tiếng Niết-bàn

Cùng với A-la-hán

Tên pháp, tăng sai khác.

Từ kiếp xa nhẫn lại

Khen bày Pháp Niết-bàn

Dứt hẳn khổ sống chết

Ta thường nói như thế.

38.-Xá-Lợi-Phất phải biết

Ta thấy các Phật tử

Chí quyết cầu Phật đạo

Vô lượng nghìn muôn ức

Đều dùng lòng cung kính

Đồng đi đến chỗ Phật

Từng đã theo các Phật

Nghe nói pháp phương tiện

Ta liền nghĩ thế này

Sở dĩ Phật ra đời

Để vì nói Phật huệ

Nay chính đã đúng giờ.

39.-Xá-Lợi-Phất phải biết!

Người căn chậm trí nhỏ

Kẻ chấp tướng kiêu mạn

Chẳng thể tin pháp này

Nay ta vui vô-úy

trong hàng Bồ-Tát

Chính bỏ ngay phương tiện

Chỉ nói đạo vô thượng.

Bồ-Tát nghe pháp đó

Đều đã trừ lưới nghi

Nghìn hai trăm La-hán

Cũng đều sẽ thành Phật

Như nghi thức nói pháp

Của các Phật ba đời

Ta nay cũng như vậy

Nói pháp không phân biệt

Các đức Phật ra đời

Lâu xa khó gặp gỡ

Chính sử hiện ra đời

Nói pháp này khó hơn

Vô lượng vô số kiếp

Nghe pháp này cũng khó,

Hay nghe được pháp này

Người đó cũng lại khó

Thí như hoa linh-thoại

Tất cả đều ưa mến

Ít có trong trời, người

Lâu lâu một lần trổ.

40.-Người nghe pháp mừng khen

Nhẫn đến nói một lời

Thời là đã cúng dường

Tất cả Phật ba đời

Người đó rất ít có

Hơn cả hoa Ưu-đàm.

Các ông chớ có nghi

Ta là vua các pháp

Khắp bảo các đại chúng

Chỉ dùng đạo nhứt thừa

Dạy bảo các Bồ-Tát

Không Thanh-văn đệ tử.

41.-Xá-Lợi-Phất các ông!

Thanh-văn và Bồ-Tát

Phải biết pháp mầu này

Bí yếu của các Phật

Bởi đời ác năm trược

Chỉ tham ưa các dục

Những chúng sinh như thế

Trọn không cầu Phật đạo

Người ác đời sẽ tới

Nghe Phật nói nhứt thừa

Mê lầm không tin nhận

Phá pháp đọa đường dữ

Người tàm quý trong sạch

Quyết chí cầu Phật đạo

Nên vì bọn người ấy

Rộng khen đạo nhất thừa.

Xá-Lợi-Phất nên biết

Pháp các Phật như thế

Dùng muôn ức phương tiện

Tùy thời nghi nói pháp

Người chẳng học tập tu

Không hiểu được pháp này

Các ông đã biết rõ

Phật là thầy trong đời

Việc phương-tiện tùy nghi

Không còn lại nghi lầm

Lòng sinh rất vui mừng

Tự biết sẽ thành Phật.              

 

KINH DIỆU- PHÁP LIÊN- HOA

Quyển Thứ Nhất

Một sáng chiếu phương đông, thể diệu toàn bày, chẳng phải chỗ suy lường mà suy lường được, thầm hiểu ở trong lòng, phương tiện truyền bày một đạo nhả hương trời.

NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần)

Thế-Tôn hiện điềm tốt, Di-Lặc nghi tướng lành, Văn-Thù vì chúng rộng phô bày: Phật xưa phóng hào-quang. Ba phen mời đấng Pháp Vương vì nói hương Diệu- Liên.

NAM MÔ QUÁ KHỨ NHẬT NGUYỆT ĐĂNG MINH PHẬT (3 lần)

 

Sự tích tả Kinh Pháp Hoa

ÔNG NGHIÊM CUNG

Nước Tàu, triều nhà Trần niên hiệu Đại-Kiến năm đầu, ở xứ Dương-Châu có ông Nghiêm-Cung tả kinh Pháp-Hoa để phân phát cho người trì tụng.

Lúc đó có thần ở miếu Cung-Đình-Hồ mách mộng cho khách buôn đem hết của trong miếu đưa sang trao cho ông Cung để chi phí về việc tả kinh.

Lại một hôm ông Cung mang tiền ra phố mua giấy viết lỡ thiếu 3.000 đồng điếu, bỗng thấy từ trong chợ đi ra một người cầm 3.000 đồng điếu trao cho ông Cung mà nói: “Giúp ông mua giấy”. Nói xong biến mất.

Rốt đời Tùy, giặc cướp đến Giang-Đô đều dặn nhau không nên phạm đến xóm của ông Nghiêm Pháp-Hoa (Nghiêm- Cung). Nhờ đó mà cả xóm an-lành.

Đến cuối đời Đường, nhà họ Nghiêm vẫn nối nhau tả kinh không thôi.

Vậy thì tả kinh, hay in kinh công đức lớn biết dường nào, không nói đến phúc báu tốt đẹp ở nhiều đời sau, ngay trong hiện tại cũng không thể lường được, chẳng những là mình khỏi khổ ngay ngay mọi người ở gần cũng được nhờ, cả Thần Thánh cũng thường theo hộ trợ như truyện ông Nghiêm-Cung đây vậy.

 

 

 Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Quyển thứ hai

Đời Diêu-Tần, Ngài Tam-Tạng Pháp-Sư Cưu-Ma-La-Thập phụng chiếu dịch.

PHẨM “THÍ DỤ” THỨ BA

     1.-Lúc bấy giờ, ngài Xá-Lợi-Phất hớn hở vui mừng, liền đứng dậy chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật mà bạch Phật rằng: “Nay con theo đức Thế-Tôn nghe được tiếng pháp này, trong lòng vui thích được điều chưa từng có. Vì sao? Con xưa theo Phật nghe pháp như thế này, thấy các vị Bồ-Tát được thọ ký thành Phật mà chúng con chẳng được dự việc đó tự rất cảm thương mất vô lượng tri kiến của Như-Lai. Thế-Tôn! Con thường khi một mình ở dưới cây trong núi rừng, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, hằng nghĩ như vậy: Chúng ta đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như-Lai lại dùng pháp tiểu thừa mà tế độ cho? Đó là lỗi của chúng con chớ chẳng phải là Thế-Tôn vậy. Vì sao? Nếu chúng con chờ Phật nói pháp sở nhân thành đạo vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác thì chắc do pháp Đại-thừa mà được độ thoát. Song chúng con chẳng hiểu Phật phương tiện theo cơ nghi mà nói pháp, vừa mới nghe Phật nói pháp vội tin nhận suy gẫm để chứng lấy. Thế-Tôn! Con từ xưa đến nay trọn ngày luôn đêm hằng tự trách mình, mà nay được từ Phật nghe pháp chưa từng có, trước chưa hề nghe, dứt các lòng nghi hối, thân ý thơ thới rất được an ổn. Ngày nay mới biết mình thật là Phật tử, từ miệng Phật sinh ra, từ pháp hóa sinh, được pháp phần của Phật.” Khi ấy, Ngài Xá-Lợi-Phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

     2.-Con nghe tiếng pháp này

Được điều chưa từng có

Lòng rất đổi vui mừng

Lưới nghi đều đã trừ,

Xưa nay nhờ Phật dạy

Chẳng mất nơi Đại-thừa.

Tiếng Phật rất ít có

Hay trừ khổ chúng sinh

Con đã được lậu tận38

Nghe cũng trừ lo khổ.

Con ở nơi hang núi

Hoặc dưới cụm cây rừng

Hoặc ngồi hoặc kinh hành

Thường suy nghĩ việc này,

Thôi ôi! Rất tự trách

Sao lại tự khi mình

Chúng ta cũng Phật tử

Đồng vào pháp vô lậu

Chẳng được ở vị lai

Nói pháp vô thượng đạo,

Sắc vàng, băm hai tướng39

Mười lực40 các giải thoát.

Đồng chung trong một pháp

Mà chẳng được việc đây

Tám mươi tướng tốt đẹp

Mười tám pháp bất cộng41

Các công đức như thế

Mà ta đều đã mất.

     3.-Lúc con kinh hành riêng

Thấy Phật ở trong chúng

Danh đồn khắp mười phương

Rộng lợi ích chúng sinh

Tự nghĩ mất lợi này

Chính con tự khi dối

Con thường trong ngày đêm

Hằng suy nghĩ việc đó

Muốn đem hỏi Thế-Tôn?

Là mất hay không mất?

Con thường thấy Thế-Tôn

Khen ngợi các Bồ-Tát42

Vì thế nên ngày đêm

Suy lường việc như vậy.

     4.-Nay nghe tiếng Phật nói

Theo cơ nghi dạy Pháp

Vô lậu khó nghĩ bàn

Khiến chúng đến đạo tràng.

Con xưa chấp tà kiến

Làm thầy các Phạm-chí43

Thế-Tôn rõ tâm con

Trừ tà nói Niết-bàn.

Con trừ hết tà kiến

Được chứng nơi pháp không

Bấy giờ lòng tự bảo

Được đến nơi diệt độ

Mà nay mới tự biết

Chẳng phải thật diệt độ.

Nếu lúc được thành Phật

Đủ ba mươi hai tướng

Trời, người, chúng Dạ-xoa

Rồng, thần đều cung kính

Bấy giờ mới được nói

Dứt hẳn hết không thừa

Phật ở trong đại chúng

Nói con sẽ thành Phật

Nghe tiếng pháp như vậy

Lòng nghi hối đã trừ.

     5.-Khi mới nghe Phật nói

Trong lòng rất sợ nghi

Phải chăng ma giả Phật

Não loạn lòng ta ư?

Phật dùng các món duyên

Thí dụ khéo nói phô,

Lòng kia an như biển

Con nghe, lưới nghi dứt.

Phật nói thuở quá khứ

Vô lượng Phật diệt độ

An trụ trong phương tiện

Cũng đều nói pháp đó.

Phật hiện tại, vị lai.

Số nhiều cũng vô lượng

Cũng dùng các phương tiện

Diễn nói pháp như thế.

Như Thế-Tôn ngày nay

Từ sinh đến xuất gia

Được đạo Chuyển-pháp-luân

Cũng dùng phương tiện nói

Thế-Tôn nói đạo thật

Ba tuần44 không nói được

Vì thế con định biết

Không phải ma giả Phật

Con sa vào lưới nghi

Cho là ma làm ra.

Nghe tiếng Phật êm dịu

Sâu xa rất nhiệm mầu

Nói suốt pháp thanh tịnh

Tâm con rất vui mừng.

Nghi hối đã hết hẳn

An trụ trong thật trí

Con quyết sẽ thành Phật

Được trời, người cung kính

Chuyển pháp-luân vô thượng

Giáo hóa các Bồ-Tát.

     6.-Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ngài Xá- Lợi-Phất: “Ta nay ở trong hàng trời, người, Sa-môn, Bà-la-môn mà nói. Ta xưa từng ở nơi hai muôn ức Phật vì đạo vô thượng nên thường giáo hóa ông, ông cũng lâu dài theo ta thọ học, ta dùng phương tiện dẫn dắt ông sinh vào trong pháp ta”. Xá-Lợi-Phất! Ta thuở xưa dạy ông chí nguyện Phật đạo, ông nay đều quên mà bèn tự nói đã được diệt độ. Ta nay lại muốn khiến ông nghĩ nhớ bản nguyện cùng đạo đã làm, mà vì các Thanh-văn nói kinh Đại-thừa tên là: “Diệu- Pháp Liên-Hoa” là pháp giáo hoá Bồ-Tát được Chư Phật hộ niệm.

     7.-Xá-Lợi-Phất! Ông đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất-khả tư-nghì kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức Phật, phụng trì chánh pháp đầy đủ đạo tu hành của Bồ-Tát, sẽ thành Phật hiệu là Hoa-Quang Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh- biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế- gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng- phu, Thiên-nhân-sư, Phật Thế-Tôn. Nước tên: Ly-Cấu, cõi đó bằng thẳng thanh tịnh đẹp đẽ an ổn giàu vui, trời người đông đảo. Lưu ly làm đất, có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng để giăng bên đường, mé đường đều có hàng cây bằng bảy báu, thường có hoa trái. Đức Hoa-Quang Như-Lai cũng dùng ba thừa giáo hóa chúng sinh. Xá-Lợi-Phất! Lúc đức Phật ra đời dầu không phải đời ác mà bởi bản nguyện nên nói pháp ba thừa. Kiếp đó tên là “Đại-Bảo-Trang-Nghiêm”. Vì sao gọi là “Đại- Bảo-Trang-Nghiêm?” Vì trong cõi đó dùng Bồ-Tát làm “Đại-Bảo” vậy. Các Bồ- Tát trong số đông vô lượng vô biên bất- khả tư-nghì, tính kể hay thí dụ đều không đếm được, chẳng phải sức trí huệ của Phật không ai có thể biết được. Khi muốn đi thì có hoa đỡ chân. Các vị Bồ-Tát đó không phải hàng mới phát tâm, đều đã trồng cội từ lâu. Ở nơi vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật, tịnh tu phạm hạnh hằng được các Phật khen. Thường tu trí huệ của Phật đủ sức thần thông lớn, khéo biết tất cả pháp môn, ngay thật không dối, chí niệm bền vững bậc Bồ- Tát như thế, khắp đầy nước đó. Xá-Lợi-Phất! Đức Phật Hoa-Quang thọ mười hai tiểu kiếp, trừ còn làm vương tử chưa thành Phật. Nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp. Đức Hoa-Quang Như- Lai quá mười hai tiểu kiếp thọ ký vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác cho Kiên- Mãn Bồ-Tát mà bảo các Tỳ-kheo: Ông Kiên-Mãn Bồ-Tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Hoa-Túc An-Hành Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, cõi nước của đức Phật đó cũng lại như đây. Xá-Lợi-Phất! Sau khi Phật Hoa-Quang đó diệt độ, chánh pháp trụ lại trong đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ đời cũng ba mươi hai tiểu kiếp. Lúc ấy, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

     8.-Xá-Lợi-Phất đời sau

Thành đấng Phật trí khắp

Hiệu rằng: Phật Hoa-Quang

Sẽ độ vô lượng chúng.

Cúng dường vô số Phật

Đầy đủ hạnh Bồ-Tát

Các công đức thập lực

Chứng được đạo vô thượng

Quá vô lượng kiếp rồi

Kiếp tên Đại-Bảo-Nghiêm

Cõi nước tên Ly-Cấu

Trong sạch không vết nhơ

Dùng lưu ly làm đất

Dây vàng giăng đường sá

Cây bảy báu sắc đẹp

Thường có hoa cùng trái

Bồ-Tát trong cõi đó

Chí niệm thường bền vững

Thần thông ba-la-mật

Đều đã trọn đầy đủ

Nơi vô số đức Phật

Khéo học đạo Bồ-Tát

Những Đại-sĩ như thế

Phật Hoa-Quang hóa độ.

Lúc Phật làm vương tử

Rời nước bỏ vinh hoa

Nơi thân cuối rốt sau

Xuất gia thành Phật đạo

Phật Hoa-Quang trụ thế

Thọ mười hai tiểu kiếp

Chúng nhân dân nước đó

Sống lâu tám tiểu kiếp

Sau khi Phật diệt độ

Chánh pháp trụ ở đời

Ba mươi hai tiểu kiếp

Rộng độ các chúng sinh

Chánh pháp diệt hết rồi

Tượng pháp cũng băm hai

Xá-lợi rộng truyền khắp

Trời, người, khắp cúng dường

Phật Hoa-Quang chỗ làm

Việc đó đều như thế.

Đấng Lưỡng-Túc-Tôn kia

Rất hơn không ai bằng

Phật tức là thân ông

Nên phải tự vui mừng.

     9.-Bấy giờ bốn bộ chúng: Tỳ-kheo, Tỳ- kheo-ni, Cận-sự-nam, Cận-sự-nữ và cả đại-chúng: trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu- la-dà, v.v... thấy Xá-Lợi-Phất ở trước Phật lãnh lấy lời dự ghi sẽ thành vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng. Mỗi người đều cởi y trên của mình đang đắp để cúng dường Phật. Thích-Đề Hoàn-Nhân cùng Phạm- Thiên-Vương v.v... và vô số thiên tử cũng đem y đẹp của trời, hoa trời Mạn-đà-la, Ma-ha Mạn-đà-la v.v... cúng dường nơi Phật. Y trời tung lên liền trụ giữa hư không mà tự xoay chuyển. Các kỹ nhạc trời trăm nghìn muôn thứ ở giữa hư không đồng thời đều trổi. Rưới các thứ hoa trời mà nói lời rằng: “Đức Phật xưa ở thành Ba-La-Nại, ban đầu chuyển-pháp- luân, đến nay mới lại chuyển pháp luân rất lớn vô thượng”. Lúc đó các Thiên tử muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

     10.- Xưa ở thành Ba-Nại

Chuyển pháp-luân Tứ- Đế

Phân biệt nói các pháp

Sinh diệt của năm nhóm45

Nay lại chuyển-pháp-luân

Rất lớn diệu vô thượng,

Pháp đó rất sâu mầu

Ít có người tin được.

Chúng ta từ xưa lại

Thường nghe Thế-Tôn nói

Chưa từng nghe thượng pháp

Thâm diệu như thế này,

Thế-Tôn nói pháp đó

Chúng ta đều tùy hỷ,

Đại trí Xá-Lợi-Phất

Nay được lãnh Phật ký

Chúng ta cũng như vậy

Quyết sẽ được thành Phật,

Trong tất cả thế gian

Rất tôn không còn trên

Phật đạo chẳng thể bàn

Phương tiện tùy nghi nói

Ta bao nhiêu nghiệp phước

Đời nay hoặc quá khứ

Và công đức thấy Phật.

Trọn hồi hướng Phật đạo.

     11.-Bấy giờ, Xá-Lợi-Phất bạch rằng: “Thế-Tôn! con nay không còn nghi hối, tự mình ở trước Phật được thọ ký thành vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác. Các vị tâm tự tại một nghìn hai trăm đây, lúc xưa ở bậc hữu-học, Phật thường dạy rằng: “Pháp của ta hay lìa sinh, già, bệnh, chết rốt ráo Niết-bàn". Các vị hữu-học vô-học đây cũng đều đã tự rời chấp ngã cùng chấp có, chấp không v.v... nói là được Niết-bàn, mà nay ở trước đức Thế-Tôn nghe chỗ chưa từng nghe, đều sa vào nghi lầm. Hay thay Thế-Tôn! Xin Phật vì bốn chúng nói nhân duyên đó, khiến lìa lòng nghi hối.”

     12.-Khi ấy, Phật bảo ngài Xá-Lợi-Phất: Ta trước đâu không nói rằng: “Các Phật Thế-Tôn dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ phương tiện mà nói pháp đều là vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác ư? Các điều nói đó đều vì dạy Bồ-Tát vậy. Nhưng Xá-Lợi-Phất! Nay ta sẽ dùng một thí dụ để chỉ rõ lại nghĩa đó, những người có trí do thí dụ mà được hiểu”. 

     13.-Xá-Lợi-Phất! Như trong quốc ấp, tụ lạc có vị đại Trưởng-giả tuổi đã già suy, của giàu vô lượng, có nhiều nhà ruộng và các tôi tớ. Nhà ông rộng lớn mà chỉ có một cửa để ra vào, người ở trong đó rất đông; hoặc một trăm, hai trăm cho đến năm trăm người, lầu gác đã mục, vách phên sụp đổ, chân cột hư nát, trính xiêng xiêu ngã, bốn phía đồng một lúc, lửa bỗng nổi lên đốt cháy nhà cửa.

Các người con của Trưởng-giả hoặc mười người, hoặc hai mươi người, hoặc đến ba mươi người ở trong nhà đó.

     14.-Trưởng-giả thấy lửa từ bốn phía nhà cháy lên, liền rất sợ sệt mà nghĩ rằng: Ta dầu có thể ở nơi cửa của nhà cháy này, ra ngoài rất an ổn, song các con ở trong nhà lửa ưa vui chơi giỡn không hay biết, không sợ sệt, lửa đến đốt thân rất đau khổ lắm, mà lòng chẳng nhàm lo, không có ý cầu ra khỏi. Xá-Lợi-Phất! Ông Trưởng-giả đó lại nghĩ: thân và tay của ta có sức mạnh, nên dùng vạt áo hoặc dùng ghế đẳng từ trong nhà mà ra ngoài. Ông lại nghĩ: Nhà này chỉ có một cái cửa mà lại hẹp nhỏ, các con thơ bé chưa hiểu, mê đắm chơi giỡn hoặc vấp ngã bị lửa đốt cháy, ta nên vì chúng nó mà nói những việc đáng sợ. Nhà này đã bị cháy, phải mau ra liền, chớ để bị lửa đốt hại. Nghĩ như thế rồi theo chỗ đã nghĩ đó mà bảo các con: “Các con mau ra!” Cha dầu thương xót khéo nói để dụ dỗ, mà các người con ưa vui chơi chẳng khứng tin chịu, chẳng sợ sệt, trọn không có lòng muốn ra, lại cũng chẳng hiểu gì là lửa? gì là nhà? thế nào là hại? Chỉ cứ đông tây chạy giỡn nhìn cha mà thôi.

     15.-Bấy giờ, Trưởng-giả liền nghĩ nhà này đã bị lửa lớn đốt cháy, ta cùng các con nếu không ra liền chắc sẽ bị cháy, ta nay nên bày chước phương tiện khiến cho các con được khỏi nạn này.

Cha biết các con đều vẫn có lòng thích các đồ chơi trân báu lạ lùng, nếu có, chắc chúng nó ưa đắm, mà bảo các con rằng: “Đây này là những món ít có khó được mà các con có thể vui chơi, nếu các con không ra lấy, sau nầy chắc buồn hận. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu như thế, nay ở ngoài cửa có thể dùng dạo chơi, các con ở nơi nhà lửa nên mau ra đây tùy ý các con muốn, cha đều sẽ cho các con.” Lúc bấy giờ, các người con nghe cha nói đồ chơi báu đẹp vừa ý mình nên lòng mỗi người đều mạnh mẽ xô đẩy lẫn nhau cùng đua nhau rượt chạy tranh ra khỏi nhà lửa. Khi đó Trưởng-giả thấy các con được an ổn ra khỏi nhà lửa đều ở trong đường ngã tư nơi đất trống không còn bị chướng ngại, tâm ông thơ thới vui mừng hớn hở. Bấy giờ, các người con đều thưa với cha rằng: “Cha lúc nãy hứa cho những đồ chơi tốt đẹp, nào xe dê, xe hươu, xe trâu xin liền ban cho”.

     16.-Xá-Lợi-Phất! Khi đó Trưởng-giả đều cho các con đồng một thứ xe lớn, xe đó cao rộng chưng dọn bằng các món báu, lan can bao quanh, bốn phía treo linh, lại dùng màn lọng giăng che ở trên, cũng dùng đồ báu đẹp tốt, lạ, mà trau giồi đó, dây bằng báu kết thắt các dải hoa rủ xuống, nệm chiếu mềm mại trải chồng, gối đỏ để trên, dùng trâu trắng kéo, sắc da mập sạch thân hình mập đẹp, có sức rất mạnh bước đi ngay bằng mau lẹ như gió, lại có đông tôi tớ để hầu hạ đó. Vì cớ sao? Vì ông Trưởng-giả đó của giàu vô lượng, các thứ kho tàng thảy đều đầy ngập, ông nghĩ rằng: “Của cải của ta nhiều vô cùng, không nên dùng xe nhỏ xấu kém mà cho các con, nay những trẻ thơ này đều là con của ta, đồng yêu không thiên lệch, ta có xe bằng bảy báu như thế số nhiều vô lượng nên lấy lòng bình đẳng mà đều cho chúng nó, chẳng nên sai khác”. Vì sao? Dầu đem xe của ta đó khắp cho cả người một nước hãy còn không thiếu huống gì các con. Lúc ấy các người con đều ngồi xe lớn được điều chưa từng có, không phải chỗ trước kia mình trông.

     17.-Xá-Lợi-Phất! Ý của ông nghĩ sao? Ông Trưởng-giả đó đồng đem xe trân báu lớn cho các người con, có lỗi hư vọng chăng? Xá-Lợi-Phất thưa: “Thưa Thế- Tôn! Không, ông Trưởng giả đó chỉ làm cho các người con được khỏi nạn lửa, toàn thân mạng chúng nó, chẳng phải là hư vọng. Vì sao? Nếu được toàn thân mạng bèn đã được đồ chơi tốt đẹp, huống nữa là dùng phương tiện cứu vớt ra khỏi nhà lửa. Thế-Tôn! Dầu ông Trưởng-giả đó nhẫn đến chẳng cho một thứ xe rất nhỏ còn chẳng phải hư vọng. Vì sao? Vì ông Trưởng-giả đó trước có nghĩ như vầy: Ta dùng chước phương tiện cho các con được ra khỏi, vì nhân duyên đó nên không hư vọng vậy. Huống gì ông Trưởng-giả tự biết mình của giàu vô lượng muốn lợi ích các con mà đồng cho xe lớn!”

     18.-Phật bảo ngài Xá-Lợi-Phất: “Hay thay! Hay thay! Như lời ông nói, Xá-Lợi- Phất! Như-Lai cũng lại như thế, Phật là cha của tất cả thế gian, ở nơi các sự sợ hãi suy não lo buồn vô minh che tối hết hẳn không còn thừa, mà trọn thành tựu vô lượng tri-kiến, trí-lực, vô-sở-úy; có sức đại thần thông cùng sức trí huệ đầy đủ các món phương tiện. Trí huệ Ba-la-mật, đại từ đại bi thường không hề lười mỏi. Hằng vì cầu việc lành lợi cho tất cả muôn loại mà sinh vào nhà lửa tam giới cũ mục này, để độ chúng sinh ra khỏi nạn lửa; sinh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não, ngu si tối tăm, ba độc; dạy bảo cho chúng sinh được vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.

     19.-Ta thấy, các chúng sinh bị những sự sinh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não nó đốt cháy, cũng vì năm món dục46 tài lợi mà bị các điều thống khổ. Lại vì tham mê đeo đuổi tìm cầu nên hiện đời thọ các điều khổ, đời sau thọ khổ địa-ngục, súc-sinh, ngạ-quỷ. Nếu sinh lên trời và ở trong loài người thời nghèo cùng khốn khổ, bị khổ về người yêu thường xa lìa, kẻ oán ghét lại

gặp gỡ. Các món khổ như thế mà chúng- sinh chìm trong đó vui vẻ dạo chơi, chẳng hay chẳng biết, chẳng kinh chẳng sợ, cũng chẳng sinh lòng nhàm không cầu giải thoát; ở trong nhà lửa tam giới này đông tây rảo chạy dầu bị khổ nhiều vẫn chẳng lấy làm lo.

     20.-Xá-Lợi-Phất! Đức Phật thấy việc này rồi bèn nghĩ rằng: Ta là cha của chúng sinh nên cứu chúng nó ra khỏi nạn khổ đó, ban vô lượng vô biên món trí huệ vui của Phật để chúng nó dạo chơi.

Xá-Lợi-Phất! Đức Như-Lai lại nghĩ: Nếu ta chỉ dùng sức thần thông cùng sức trí huệ bỏ chước phương tiện, mà vì chúng sinh khen ngợi các món tri-kiến, trí-lực, vô-sở-úy của Như-Lai, ắt chúng sinh chẳng có thể do đó mà được độ thoát. Vì sao? Vì các chúng sinh đó chưa khỏi sự sinh, già, bệnh, chết, lo buồn, đau khổ, đương bị thiêu đốt trong nhà lửa tam giới, làm sao có thể hiểu được trí huệ của Phật.

     21.-Xá-Lợi-Phất! Như ông Trưởng-giả kia dầu thân và tay có sức mạnh mà chẳng dùng đó, chỉ ân cần phương tiện gắng cứu các con thoát nạn nhà lửa, rồi sau đều cho xe trân báu lớn.

Đức Như-Lai cũng lại như thế, dầu có trí lực cùng sức vô úy47 mà chẳng dùng đến, chỉ dùng trí huệ phương tiện nơi nhà lửa tam giới cứu vớt chúng sinh, vì chúng sinh nói ba thừa Thanh-văn, Duyên-giác cùng Phật-thừa mà bảo rằng: “Các ngươi không nên ưa ở trong nhà lửa tam giới, chớ có ham mê các món sắc, thanh, hương, vị, xúc thô hèn, nếu tham, mê ắt sinh ái nhiễm thì sẽ bị nó đốt; các ngươi mau ra khỏi ba cõi sẽ được chứng ba thừa: Thanh-văn, Duyên-giác và Phật-thừa. Nay ta vì các người mà bảo đảm việc đó quyết không dối vậy. Các người chỉ nên siêng năng tinh-tấn tu hành". Đức Như- Lai dùng phương tiện ấy để dụ dẫn chúng sinh thẳng đến, lại bảo: “Các ngươi nên biết rằng pháp ba thừa đó đều là pháp của các đấng Thánh khen ngợi, là pháp tự tại không bị ràng buộc không còn phải nương gá tìm cầu, ngồi trong ba thừa này dùng các món căn, lực, giác-chi, thánh-đạo48, thiền định vô lậu cùng giải thoát tam muội v.v... để tự vui sướng, được vô lượng an ổn khoái lạc”.

     22.-Xá-Lợi-Phất! nếu có chúng sinh nào bề trong có trí tánh, theo đức Phật Thế-Tôn nghe pháp tin nhận ân cần tinh tấn, muốn chóng ra khỏi ba cõi tự cầu chứng Niết-bàn, gọi đó là Thanh-văn thừa, như các người con kia vì cầu xe dê mà ra khỏi nhà lửa. Nếu có chúng sinh nào theo đức Phật- Thế-Tôn nghe pháp, tin nhận, rồi ân cần tinh tấn, cầu trí huệ tự nhiên ưa thích riêng lẻ vắng lặng, sâu rõ nhân duyên của các pháp, gọi đó là Duyên-giác-thừa, như các người con kia vì cầu xe hươu mà ra khỏi nhà lửa. Nếu có chúng sinh nào theo đức Phật Thế-Tôn nghe pháp tin nhận, siêng tu tinh tấn cầu nhứt-thiết-trí, Phật-trí, tự-nhiên- trí, vô-sư-trí, các món tri-kiến-lực, vô-úy của Như-Lai, có lòng thương xót làm an vui cho vô lượng chúng sinh, lợi ích trời, người, độ thoát tất cả, hạng đó gọi là Đại- thừa, Bồ-Tát vì cầu được thừa này thì gọi là Ma-ha-tát, như các người con kia cầu xe trâu mà ra khỏi nhà lửa.

     23.-Xá-Lợi-Phất! Như ông Trưởng-giả kia thấy các con được an ổn ra khỏi nhà lửa đến chỗ vô úy, ông tự nghĩ, ta của giàu vô lượng, nên bình đẳng đem xe lớn đồng cho các con. Đức Như-Lai cũng lại như thế, là cha của tất cả chúng sinh, nếu thấy có vô lượng nghìn ức chúng sinh do cửa Phật giáo mà thoát khỏi khổ, đường hiểm đáng sợ của ba cõi được sự vui Niết-bàn. Bấy giờ, đức Như-Lai bèn nghĩ: “Ta có vô lượng vô biên trí huệ, lực-vô-úy v.v... tạng pháp của các đức Phật, các chúng sinh này đều là con của ta đồng ban cho pháp Đại-thừa, chẳng để có người được diệt độ riêng, đều đem pháp diệt độ của Như-Lai mà cho chúng sinh nó diệt độ. Những chúng sinh đã thoát khỏi ba cõi đó, Phật đều cho món vui thiền định, giải thoát v.v... của các đức Phật, các món đó đều là một tướng, một thứ mà các đấng Thánh khen ngợi, hay sinh ra sự vui sạch mầu bậc nhất.

     24.-Xá-Lợi-Phất! Như ông Trưởng-giả ban đầu dùng ba thứ xe dụ dẫn các con, sau rồi chỉ ban cho xe lớn vật báu trang nghiêm an ổn thứ nhất, song ông Trưởng- giả kia không có lỗi hư dối. Đức Như-Lai cũng như thế, không có hư dối, ban đầu nói ba thừa dẫn dắt chúng sinh sau rồi chỉ dùng Đại-thừa mà độ giải thoát đó. Vì sao? Như-Lai có vô lượng tạng pháp trí huệ, lực, vô-sở-úy, có thể ban pháp Đại- thừa cho tất cả chúng sinh, chỉ vì chúng sinh không thọ được hết. Xá-Lợi-Phất! Vì nhân duyên đó nên phải biết các đức Như-Lai dùng sức phương tiện ở nơi một Phật-thừa phân biệt nói thành ba. Đức Phật muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

     25.-Thí như ông Trưởng-giả

Có một nhà rất lớn

Nhà đó đã lâu cũ

Mà lại rất xấu xa,

Phòng nhà vừa cao nguy

Gốc cột lại gẫy mục

Trính xiêng đều xiêu vẹo

Nền móng đã nát rã,

Vách phên đều sụp đổ

Đất bùn rơi rớt xuống,

Tranh lợp sa tán loạn

Kèo đòn tay rời khớp,

Bốn bề đều cong vạy

Khắp đầy những tạp nhơ,

Có đến năm trăm người

Ở đỗ nơi trong đó. 

Chim xi, hiêu, điêu, thứu, 

Quạ, chim thước, cưu, cáp

Loài ngoan-xà, phúc-yết,

Giống ngô-công, do-diên,

Loài thủ-cung, bá-túc

Dứu-ly cùng hề-thử

Các giống độc trùng dữ

Ngang dọc xen ruỗi chạy,

Chỗ phẩn giải hôi thối.

Đồ bất tịnh chảy tràn

Các loài trùng khương lương

Bu nhóm ở trên đó,

Cáo, sói cùng dã-can

Liếm nhai và dày đạp

Cắn xé những thây chết

Xương thịt bừa bãi ra,

Do đây mà bầy chó

Đua nhau đến ngoạm lấy,

Ốm đói và sợ sệt

Nơi nơi tìm món ăn

Giành giựt cấu xé nhau

Gầm gừ gào sủa rên,

Nhà đó sự đáng sợ

Những biến trạng dường ấy.

Khắp chỗ đều có những

Quỷ, lị, mị, vọng, lượng

Quỷ Dạ-xoa quỷ dữ

Nuốt ăn cả thịt người,

Các loài trùng độc dữ

Những cầm thú hung ác

Ấp, cho bú sản sinh

Đều tự giấu gìn giữ

Quỷ Dạ-xoa đua đến

Giành bắt mà ăn đó,

Ăn đó no nê rồi

Lòng hung dữ thêm hăng

Tiếng chúng đánh cãi nhau

Thật rất đáng lo sợ.

Những quỷ Cưu-bàn-trà

Ngồi xổm trên đống đất

Hoặc có lúc hỏng đất

Một thước hay hai thước

Qua rồi lại, dạo đi

Buông lung chơi cùng giỡn

Nắm hai chân của chó

Đánh cho la thất thanh

Lấy chân đạp trên cổ

Khủng bố chó để vui.

Lại có các giống quỷ

Thân nó rất cao lớn

Trần truồng thân đen xấu

Thường ở luôn trong đó

Rền tiếng hung ác lớn

Kêu la tìm món ăn

Lại có các giống quỷ

Cổ nó nhỏ bằng kim,

Lại có các giống quỷ

Đầu nó như đầu trâu

Hoặc là ăn thịt người

Hoặc lại ăn thịt chó,

Đầu tóc rối tung lên

Rất ác lại hung hiểm,

Bị đói khát bức ngặt

Kêu la vừa rong chạy

Dạ-xoa cùng quỷ đói

Các chim muông ác độc

Đói gấp rảo bốn bề

Rình xem các cửa sổ

Các nạn dường thế đấy

Vô lượng việc ghê sợ49

     26.-Nhà cũ mục trên đó

Thuộc ở nơi một người

Người ấy vừa mới ra

Thời gian chưa bao lâu

Rồi sau nhà cửa đó

Bỗng nhiên lửa cháy đỏ

Đồng một lúc bốn bề

Ngọn lửa đều hừng hực,

Rường cột và trính xiêng

Tiếng tách nổ vang động

Nát gẫy rơi rớt xuống

Vách phên đều lở ngã,

Các loại quỷ thần thảy

Đồng cất tiếng kêu to,

Các giống chim điêu, thứu

Quỷ Cưu-bàn-trà thảy

Kinh sợ chạy sảng sốt

Vẫn không tự ra được,

Thú dữ loài trùng độc

Chui núp trong lỗ hang

Các quỷ Tỳ-xá-xà

Cũng ở trong hang đó

Vì phúc đức kém vậy

Bị lửa đến đốt bức

Lại tàn hại lẫn nhau

Uống máu ăn thịt nhau.

Những loại thú dã-can

Thì đều đã chết trước

Các giống thú dữ lớn

Giành đua đến ăn nuốt.

Khói tanh bay phùn phụt

Phủ khắp bít bốn bề,

Loài ngô-công, do-diên

Cùng với rắn hung độc

Bị lửa lòn đốt cháy

Tranh nhau chạy khỏi hang

Quỷ Bàn-trà rình chờ

Liền bắt lấy mà ăn.

Lại có các ngạ-quỷ

Trên đầu lửa rực cháy

Đói khát rất nóng khổ

Sảng sốt chạy quàng lên,

Nhà lửa đó dường ấy

Rất đáng nên ghê sợ

Độc hại cùng tai lửa

Các nạn chẳng phải một.

     27.-Lúc bấy giờ chủ nhà

Đứng ở nơi ngoài cửa

Nghe có người mách rằng:

Các người con của ông

Trước đây vì dạo chơi

Mà đến vào nhà này

Thơ bé không hiểu biết

Chỉ vui ham ưa đắm.

Trưởng-giả vừa nghe xong

Kinh sợ vào nhà lửa

Tìm phương nghi cứu tế

Cho con khỏi thiêu hại

Mà dụ bảo các con

Nói rõ các hoạn nạn:

Nào ác quỷ độc trùng

Hỏa tai lan tràn cháy

Các sự khổ thứ lớp

Nối luôn không hề dứt

Loài độc xà, ngươn phúc

Và các quỷ Dạ-xoa

Cùng quỷ Cưu-bàn-trà

Những dã-can, chồn, chó

Chim điêu, thứu, xi, hiêu

Lại giống bá túc thảy

Đều đói khát khổ gấp

Rất đáng phải ghê sợ

Chỗ khổ nạn như thế

Huống lại là lửa lớn.

Các con nhỏ không hiểu

Dầu có nghe cha dạy

Cứ vẫn còn ham ưa

Vui chơi mãi không thôi.

     28.-Bấy giờ trưởng-giả kia

Mới bèn nghĩ thế này

Các con như thế đó

Làm ta thêm sầu não

Nay trong nhà lửa này

Không một việc đáng vui

Mà các con ngây dại

Vẫn ham mê vui chơi

Chẳng chịu nghe lời ta

Toan sẽ bị lửa hại.

Ông bèn lại suy nghĩ

Nên bày các phương tiện

Bảo với các con rằng:

Cha có rất nhiều thứ

Các đồ chơi trân kỳ

Những xe báu tốt đẹp

Nào xe dê, xe hươu

Cùng với xe trâu lớn

Hiện để ở ngoài cửa

Các con mau ra đây

Cha chính vì các con

Mà sắm những xe này

Tùy ý các con thích

Có thể để dạo chơi.

Các con nghe cha nói

Các thứ xe như vậy

Tức thời cùng giành đua

Rảo chạy ra khỏi nhà

Đến nơi khoảng đất trống

Rời những sự khổ nạn

Trưởng-giả thấy các con

Được ra khỏi nhà lửa

Ở nơi ngã tư đường

Đều ngồi tòa sư-tử

Ông bèn tự mừng rằng

Ta nay rất mừng vui

Những đứa con ta đây

Đẻ nuôi rất khó lắm

Chúng nhỏ dại không hiểu

Mới lầm vào nhà hiểm

Có nhiều loài trùng độc

Quỷ, lị, mị đáng sợ

Lửa lớn cháy hừng hực

Bốn phía đều phựt lên

Mà các trẻ con này

Lại ham ưa vui chơi

Nay ta đã cứu chúng

Khiến đều được thoát nạn

Vì thế các người ơi!

Ta nay rất vui mừng.

Khi ấy các người con

Biết cha đã ngồi an

Đều đến bên chỗ cha

Mà thưa cùng cha rằng:

Xin cha cho chúng con

Ba thứ xe báu lạ

Như vừa rồi cha hứa

Các con mau ra đây

Sẽ cho ba thứ xe

Tùy ý các con muốn

Bây giờ chính phải lúc

Xin cha thương cấp cho.

     29.-Trưởng-giả giàu có lớn

Kho đụn rất nhiều đầy

Vàng, bạc, cùng lưu ly

Xa-cừ, ngọc mã-não,

Dùng những món vật báu

Tạo thành các xe lớn

Chưng dọn trang nghiêm đẹp

Khắp vòng có bao lơn

Bốn mặt đều treo linh

Dây vàng xen thắt tụi

Lưới mành kết trân châu

Giăng bày phủ phía trên

Hoa vàng các chuỗi ngọc

Lòng thòng rủ khắp chỗ

Các màu trang sức đẹp

Khắp vòng xây quanh xe

Dùng nhiễu hàng mềm mại

Để làm nệm lót ngồi

Vải quý mịn rất tốt

Giá trị đến nghìn muôn

Bóng láng trắng sạch sẽ

Dùng trải trùm trên nệm

Có trâu trắng to lớn

Mập khỏe nhiều sức mạnh

Thân hình rất tươi tốt

Để kéo xe báu đó

Đông những tôi và tớ

Mà chực hầu giữ gìn

Đem xe đẹp như thế

Đồng ban cho các con

Các con lúc bấy giờ

Rất vui mừng hớn hở

Ngồi trên xe báu đó

Dạo đi khắp bốn phương

Vui chơi nhiều khoái lạc

Tự tại không ngăn ngại.

     30.-Bảo Xá-Lợi-Phất này

Đức Phật cũng như vậy

Tôn cả trong hàng Thánh

Cha lành của trong đời

Tất cả các chúng sinh

Đều là con của ta

Say mê theo thế lạc

Không có chút huệ tâm

Ba cõi hiểm không an

Dường như nhà lửa cháy

Các nạn khổ dẫy đầy

Rất đáng nên ghê sợ

Thường có những sinh, già

Bệnh, chết và rầu lo

Các thứ lửa như thế

Cháy hừng chẳng tắt dứt

Đức Như-Lai đã lìa

Nhà lửa ba cõi đó

Vắng lặng ở thong thả

An ổn trong rừng nội

Hiện nay ba cõi này

Đều là của ta cả

Những chúng sinh trong đó

Cũng là con của ta

Mà nay trong ba cõi

Có nhiều thứ hoạn nạn

Chỉ riêng một mình ta

Có thể cứu hộ chúng

Dầu lại đã dạy bảo

Mà vẫn không tin nhận

Vì nơi các dục nhiễm

Rất sinh lòng tham mê

Bởi thế nên phương tiện

Vì chúng nói ba thừa

Khiến cho các chúng sinh

Rõ ba cõi là khổ

Mở bày cùng diễn nói

Những đạo pháp xuất thế,

Các người con đó thảy

Nếu nơi tâm quyết định

Đầy đủ ba món minh50

Và sáu món thần thông51

Có người được Duyên-Giác

Hoặc bất thối Bồ-Tát.

Xá-Lợi-Phất phải biết

Ta vì các chúng sinh

Dùng món thí dụ này

Để nói một Phật-thừa

Các ông nếu có thể

Tin nhận lời nói đây.

Tất cả người đều sẽ

Chứng thành quả Phật đạo.

     31.-Phật thừa đây vi diệu

Rất thanh tịnh thứ nhất

Ở trong các thế giới

Không còn pháp nào trên

Của các Phật vui ưa,

Tất cả hàng chúng sinh

Đều phải nên khen ngợi

Và cúng dường lễ bái

Đủ vô lượng nghìn ức

Các trí lực, giải thoát

Thiền định và trí huệ

Cùng pháp khác của Phật

Chứng được thừa như thế

Khắp cho các con thảy

Ngày đêm cùng kiếp số

Thường được ngồi dạo chơi

Cho các hàng Bồ-Tát

Cùng với chúng Thanh-văn

Nương nơi thừa báu này

Mà thẳng đến đạo tràng.

Vì bởi nhân duyên đó

Tìm kỹ khắp mười phương

Lại không thừa nào khác

Trừ Phật dùng phương tiện

Bảo với Xá-Lợi-Phất!

Bọn ông các người thảy

Đều là con của ta

Ta thời là cha lành.

Các ông trải nhiều kiếp

Bị các sự khổ đốt

Ta đều đã cứu vớt

Cho ra khỏi ba cõi

Ta dầu ngày trước nói

Các ông được diệt độ

Nhưng chỉ hết sinh tử

Mà thật thời chẳng diệt

Nay việc nên phải làm

Chỉ có trí huệ Phật.

Nếu có Bồ-Tát nào

Ở trong hàng chúng này

Có thể một lòng nghe

Pháp thật của các Phật, Các đức Phật Thế-Tôn

Dầu dùng chước phương tiện

Mà chúng sinh được độ

Đều là Bồ-Tát cả.

     32.-Nếu có người trí nhỏ

Quá mê nơi ái dục

Phật bèn vì bọn này

Mà nói lý khổ-đế,

Chúng sinh nghe lòng mừng

Được điều chưa từng có

Đức Phật nói khổ-đế,

Chân thật không sai khác

Nếu lại có chúng sinh

Không rõ biết gốc khổ

Quá say nơi khổ nhân

Chẳng tạm rời bỏ được

Phật vì hạng người này

Dùng phương tiện nói dạy

Nguyên nhân có các khổ

Tham dục là cội gốc

Nếu dứt được tham dục

Khổ không chỗ nương đỗ

Dứt hết hẳn các khổ

Gọi là đế thứ ba

Vì chứng diệt-đế vậy

Mà tu hành đạo-đế

Lìa hết các khổ phược

Gọi đó là giải thoát

Người đó nơi pháp gì

Mà nói được giải thoát?

Chỉ xa rời hy vọng

Gọi đó là giải thoát

Kỳ thực chưa phải được

Giải thoát hẳn tất cả

Đức Phật nói người đó

Chưa phải thật diệt độ

Vì người đó chưa được

Đạo quả vô thượng vậy.

Ý của ta không muốn

Cho đó đến diệt độ,

Ta là đấng Pháp-vương

Tự tại nơi các Pháp

Vì an ổn chúng sinh

Nên hiện ra nơi đời.

Xá-Lợi-Phất phải biết

Pháp ấn của ta đây

Vì muốn làm lợi ích

Cho thế gian nên nói

Tại chỗ ông đi qua

Chớ có vọng tuyên truyền.

Nếu có người nghe đến

Tùy hỷ kính nhận lấy

Phải biết rằng người ấy

Là bậc bất-thối-chuyển

Nếu có người tin nhận

Kinh pháp vô thượng này.

Thời người đó đã từng

Thấy các Phật quá khứ

Cung kính và cúng dường

Cũng được nghe pháp này.

Nếu người nào có thể

Tin chịu lời ông nói

Thì chính là thấy Ta

Cũng là thấy nơi ông

Cùng các chúng Tỳ-kheo

Và các hàng Bồ-Tát.

     33.-Phật vì người trí sâu

Nói kinh Pháp-Hoa này

Kẻ thức cạn nghe đến

Mê lầm không hiểu được.

Tất cả hàng Thanh-văn

Cùng với Bích-chi-Phật

Ở trong kinh pháp này

Sức kia không hiểu được.

Chính ông Xá-Lợi-Phất

Hãy còn nơi kinh này

Dùng lòng tin được vào

Huống là Thanh-văn khác.

Bao nhiêu Thanh-văn khác

Do tin theo lời Phật

Mà tùy thuận kinh này

Chẳng phải trí của mình.

     34.-Lại này Xá-Lợi-Phất!

Kẻ kiêu mạn biếng lười

Vọng so chấp lấy ngã

Chớ vì nói kinh này,

Hạng phàm phu biết cạn

Quá mê năm món dục

Nghe pháp không hiểu được

Cũng chẳng nên vì nói.

Nếu có người không tin

Khinh hủy chê kinh này

Thì là dứt tất cả

Giống Phật ở thế gian.

Nếu có người sịu mặt

Mà ôm lòng nghi hoặc

Ông nên lóng nghe nói

Tội báo của người đó

Hoặc Phật còn tại thế

Hoặc sau khi diệt độ

Nếu có người chê bai

Kinh điển như thế này

Thấy có người đọc tụng

Biên chép thọ trì kinh

Rồi khinh tiện ghét ghen

Mà ôm lòng kết hờn

Tội báo của người đó

Ông nay lại lóng nghe.

Người đó khi mạng chung

Sa vào ngục A-tỳ

Đầy đủ một kiếp chẵn

Kiếp mãn hết lại sinh

Cứ xoay vần như thế

Nhẫn đến vô số kiếp.

Từ trong địa ngục ra

Sẽ đọa vào súc sinh,

Hoặc làm chó, dã-can

Thân thể nó ốm gầy

Đen điu thêm ghẻ lác

Bị người thường chọc ghẹo

Lại còn phải bị người

Gớm nhờm và ghét rẻ

Thường ngày đói khát khổ

Xương thịt đều khô khan,

Lúc sống chịu khổ sở

Chết bị ném ngói đá

Vì đoạn mất giống Phật

Nên thọ tội báo đó

Hoặc sinh làm lạc đà

Hoặc sinh vào loài lừa

Thân thường mang kéo nặng

Lại thêm bị đánh đập

Chỉ nhớ tưởng: nước, cỏ

Ngoài ra không biết gì

Vì khinh chê kinh này

Mà mắc tội như vậy

Có khi làm dã-can

Đi vào trong xóm làng

Thân thể đầy ghẻ lác

Lại chột hết một mắt

Bị bọn trẻ nhỏ vây

Theo đánh đập liệng ném

Chịu nhiều các đau khổ

Hoặc có lúc phải chết

Ở đây vừa chết rồi

Liền lại thọ thân rắn

Thân thể nó dài lớn

Đến năm trăm do tuần

Điếc ngây và không chân

Lăn lóc đi bằng bụng

Bị các loài trùng nhỏ

Cắn rúc ăn thịt máu

Bị khổ cả ngày đêm

Không tạm có ngừng nghỉ

Vì khinh chê kinh này

Mà mắc tội như vậy.

Nếu được sinh làm người

Các căn đều ám độn

Lùn xấu lại lệch què

Đui điếc thêm lưng gù

Có nói ra lời gì

Mọi người không tin nhận

Hơi miệng thường hôi thối

Bị quỷ mị dựa nhập

Nghèo cùng rất hèn hạ

Bị người sai khiến luôn,

Nhiều bệnh thân ốm gầy

Không có chỗ cậy nhờ

Dù nương gần với người

Mà người chẳng để ý

Nếu có được điều chi

Thời liền lại quên mất,

Nếu học qua nghề thuốc

Theo đúng phép trị bệnh

Mà bệnh người nặng thêm

Hoặc có khi đến chết,

Nếu tự mình có bệnh

Không người chữa lành được

Dù có uống thuốc hay

Mà bệnh càng thêm nặng,

Hoặc người khác phản nghịch

Cướp giật trộm lấy của

Các tội dường thế đó

Lại tự mang vạ lây.

Những người tội như đây

Trọn không thấy được

Phật Là vua trong hàng

Thánh Thường nói pháp giáo hóa

Những người tội như đây

Thường sinh chỗ hoạn nạn

Tâm cuồng loạn, tai điếc

Trọn không nghe pháp được,

Trải qua vô số kiếp

Như số cát sông

Hằng Sinh ra liền điếc câm

Các căn chẳng đầy đủ

Thường ở trong địa ngục

Như dạo chơi vườn nhà,

Ở tại các đạo khác

Như ở nhà cửa mình

Lạc đà, lừa, lợn, chó

Là chỗ kia thường đi

Vì khinh chê kinh này

Mắc tội dường thế đó.

Nếu được sinh làm người

Điếc, đui lại câm, ngọng

Nghèo cùng các tướng suy

Dùng đó tự trang nghiêm.

Sưng bủng bệnh khô khát

Ghẻ, lác, cùng ung thư

Các bệnh như trên đó

Dùng làm y phục mặc,

Thân thể thường hôi hám

Nhơ nhớp không hề sạch

Lòng chấp ngã sâu chặt

Thêm nhiều tánh giận hờn

Tánh dâm dục hẫy hừng

Đến chẳng chừa cầm thú,

Vì khinh chê kinh này

Mắc tội dường thế đó.

     35.-Bảo cho Xá-Lợi-Phất!

Người khinh chê kinh này

Nếu kể nói tội kia

Cùng kiếp cũng chẳng hết

Vì bởi nhân duyên đó

Ta vẫn bảo các ông

Trong nhóm người vô trí

Chớ nên nói kinh này

Nếu có người lợi căn

Sức trí huệ sáng láng

Học rộng và nhớ dai

Lòng mong cầu Phật đạo

Những hạng người như thế

Mới nên vì đó nói

Nếu có người đã từng

Thấy trăm nghìn ức Phật

Trồng các cội đức lành

Thâm tâm rất bền vững

Hạng người được như thế

Mới nên vì đó nói.

Nếu có người tinh tấn

Thường tu tập lòng từ

Chẳng hề tiếc thân mạng

Mới nên vì đó nói

Nếu có người cung kính

Không có sinh lòng khác

Lìa xa các phàm ngu

Ở riêng trong núi thẩm

Những hạng người như thế

Mới nên vì đó nói

Lại Xá-Lợi-Phất này!

Nếu thấy có người nào

Rời bỏ ác tri-thức

Gần gũi bạn hiền lành

Người được như thế ấy

Mới nên vì đó nói.

Nếu thấy hàng Phật tử

Giữ giới hạnh trong sạch

Như minh châu sáng sạch

Ham cầu kinh Đại thừa

Những người được như thế

Mới nên vì đó nói.

Nếu người không lòng giận

Chắc thật ý dịu hòa

Thường thương xót mọi loài

Cung kính các đức Phật

Hạng người tốt như thế

Mới nên vì đó nói.

Lại có hàng Phật tử

Ở tại trong đại chúng

Thuần dùng lòng thanh tịnh

Các món nhân cùng duyên

Thí dụ và lời lẽ

Nói pháp không chướng ngại

Những người như thế ấy

Mới nên vì đó nói

Nếu có vị Tỳ-kheo

Vì cầu nhứt-thiết-trí

Khắp bốn phương cầu pháp

Chắp tay cung kính thọ

Chỉ ưa muốn thọ trì

Kinh điển về Đại-thừa

Nhẫn đến không hề thọ

Một bài kệ kinh khác

Hạng người được như thế

Mới nên vì đó nói.

Như có người chí tâm

Cầu xá-lợi của Phật

Cầu kinh cũng như thế

Được rồi đảnh lễ thọ

Người đó chẳng còn lại

Có lòng cầu kinh khác

Cũng chưa từng nghĩ tưởng

Đến sách vở ngoại đạo

Người được như thế ấy

Mới nên vì đó nói.

Bảo cùng Xá-Lợi-Phất!

Ta nói các sự tướng

Của người cầu Phật đạo

Cùng kiếp cũng chẳng hết

Những người như thế đó

Thì có thể tin hiểu

Ông nên vì họ nói

Kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa.

Thích Nghĩa

  1. 38.LẬU TẬN: Nhiễm tâm phiền-não đã hết sạch, đồng nghĩa với: “Vô Lậu”.
  2. 39.Thân Phật sắc vàng tử-kim đủ 32 tướng tốt.
  3. 40.Trí của Phật có 10 lực dụng: 1.Thị-xứ phi-xứ trí-lực; 2. Nghiệp trí-lực; 3.Thiền-định trí-lực; 4.Căn-tính trí-lực; 5.Nguyện-dục trí-lực; 6. Giới trí-lực; 7.Đạo-chí-xử trí-lực; 8.Túc-mạng trí-lực; 9.Thiên-nhãn trí-lực; 10.Lậu-tận trí-lực.
  4. 41.Bất Cộng: Bồ-Tát cùng Thanh-văn Duyên-giác đều không có, riêng Phật là có 18 pháp này.
  5. 42.BỒ-TÁT: 'Bồ-Đề': Giác; 'tát đỏa': Hữu-tình; nói tắt là Bồ-Tát, tức là bậc đã tự hay giác ngộ và có thể cứu độ giác ngộ loài hữu tình.
  6. 43.Tức là Bà-la-môn.
  7. 44.Tên của Ma-vương ở đầu cõi dục.
  8. 45.NGŨ UẨN: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Cũng gọi là ngũ ấm.
  9. 46.NGŨ DỤC: 1. Tài (sắc), sắc, danh, thực (sự ăn), thùy (ngủ nghỉ). 2. Sắc, thanh, hương, vị, xúc.
  10. 47.Bốn đức vô-sở-úy của Phật: 1. Nhất-thiết-trí vô-úy; 2. Lậu-tận vô-úy; 3. Thuyết-đạo vô-úy; 4. Thuyết-khổ-tận-đạo vô-úy.
  11. 48.NĂM CĂN: Tín căn, tinh-tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. NĂM LỰC: tín lực, tinh tấn lực, niệmlực, định lực, tuệ lực. BẢY GIÁC CHI: Trạch pháp, niệm, tinh tấn, hỷ, khinh an, định,xả.

TÁM CHÁNH ĐẠO: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh định.

  1. 49.Súy: Cú tai mèo. Hiêu, Điêu. THỨU: Loài chim dữ, tiếng xấu. THƯỚC: Chim khách. CƯU: Tu-hú. CÁP: Bồ câu. NGOAN- XÀ: Rắn độc. PHÚC-YẾT: Bò-cạp. NGÔ CÔNG: Rít. DO- DIÊN: Trùng, rận ở trong áo tơi. DỨU -LY: Chồn, cáo. HỀ- THỬ: Giống chuột. KHƯƠNG-LƯƠNG: Bọ hung.
  2. 50.1- Thiên-nhãn-minh, 2- Túc-mạng-minh, 3- Lậu-tận-minh.

1- Thiên-nhãn-thông, 2- Thần-túc-thông, 3- Thiên-nhĩ-thông, 3- Tha-tâm-thông, 4- Túc-mạng-thông, 5- Lậu-tận-thông.                  

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “TÍN GIẢI”52 THỨ TƯ

 

1.-Lúc bấy giờ, các Ngài Tuệ-Mệnh Tu-Bồ-Đề, Đại Ca-Chiên-Diên, Đại Ca- Diếp, Đại Mục-Kiền-Liên, từ nơi Phật được nghe pháp chưa từng có. Đức Thế- Tôn dự ghi cho Ngài Xá-Lợi-Phất sẽ thành vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, sinh lòng hy hữu hớn hở vui mừng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy sửa y phục trịch bày vai hữu, gối hữu chấm đất, một lòng chấp tay cúi mình cung kính chiêm ngưỡng dung nhan Phật mà bạch cùng Phật rằng: “Chúng con đứng đầu trong hàng Tăng, tuổi đều già lụn, tự cho đã được Niết-bàn không kham nhiệm gì nữa, chẳng còn thẳng cầu thêm đạo vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác.”

Đức Thế-Tôn thuở trước nói pháp đã lâu, lúc đó chúng con ngồi nơi toà thân thể mỏi mệt, chỉ nhớ nghĩ ba pháp: Không, vô tướng, vô tác, đối với các pháp du hý thần thông, tịnh cõi nước Phật, độ thoát chúng sinh của Bồ-Tát, lòng chúng con không ưa thích. Vì sao? Đức Thế-Tôn khiến chúng con ra khỏi ba cõi được chứng Niết-bàn, lại nay đây chúng con tuổi đã già nua ở nơi đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác của Phật dạy Bồ-Tát không hề sinh một niệm ưa thích. Chúng con hôm nay ở trước Phật nghe thọ ký cho Thanh-văn sẽ được vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, lòng rất vui mừng được pháp chưa từng có, chẳng ngờ hôm nay bỗng nhiên được pháp hy hữu, tự rất mừng may được lợi lành lớn, vô lượng trân báu chẳng tìm cầu mà tự được.

2.-Thế-Tôn! Chúng con hôm nay xin nói thí dụ để chỉ rõ nghĩa đó. Thí như có người tuổi thơ bé, bỏ cha trốn đi qua ở lâu nơi nước khác, hoặc mười, hai mươi đến năm mươi năm; người đó tuổi đã lớn lại thêm nghèo cùng khốn khổ, dong ruổi bốn phương để cầu đồ mặc vật ăn, dạo đi lần lần tình cờ về bổn quốc. Người cha từ trước đến nay, tìm con không được bèn ở lại tại một thành trong nước đó. Nhà ông giàu lớn của báu vô lượng, các kho đụn, vàng, bạc, lưu ly, san- hô, hổ-phách, pha lê, châu ngọc v.v... thảy đều đầy tràn; tôi tớ, thần tá, lại dân rất đông, voi, ngựa, xe cộ bò dê nhiều vô số. Cho vay thâu vào lời lãi khắp đến nước khác, khách thương buôn bán cũng rất đông nhiều. Bấy giờ, gã nghèo kia dạo đến các tụ lạc, trải qua xóm làng, lần hồi đến nơi thành của người cha ở.

Người cha hằng nhớ con, cùng con biệt ly hơn năm mươi năm mà ông vẫn chưa từng đối với người nói việc như thế, chỉ tự suy nghĩ lòng rất ăn năn. Ông tự nghĩ già nua và có nhiều của cải, vàng bạc, trân báu, kho đụn tràn đầy, không có con cái, một mai mà chết mất thì của cải tản thất không người giao phó. Cho nên ân cần luôn nhớ đến con. Ông lại nghĩ: Nếu ta gặp được con ủy phó của cải, thản nhiên khoái lạc không còn sầu lo.

3.-Thưa Thế-Tôn! Bấy giờ gã cùng tử làm thuê làm mướn lần hồi tình cờ đến nhà người cha bèn đứng lại bên cửa, xa thấy cha ngồi giường sư tử, ghế báu đỡ chân, các hàng Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, Cư- sĩ đều cung kính bao quanh. Trên thân ông đó dùng chuỗi ngọc trân châu giá trị nghìn vạn để trang nghiêm, kẻ lại dân tôi tớ tay cầm phất trần trắng đứng hầu hai bên. Màn báu che trên, những phan đẹp thòng xuống, nước thơm rưới đất, rải các thứ danh hoa, các vật báu chưng bày, phát ra, thâu vào, lấy, cho v.v... có các sự nghiêm sức dường ấy, uy đức rất tôn trọng. Gã cùng tử thấy cha có thế lực lớn liền sinh lòng lo sợ, hối hận về việc đến nhà này, nó thầm nghĩ rằng: “Ông này chắc là vua, hoặc là bậc đồng vua, chẳng phải là chỗ của ta làm thuê mướn được tiền vật. Chẳng bằng ta qua đến xóm nghèo có chỗ cho ta ra sức dễ được đồ mặc vật ăn, nếu như ta đứng lâu ở đây hoặc rồi họ sẽ bức ngặt ép sai ta làm.” Gã nghĩ như thế rồi, liền chạy mau đi thẳng.

4.-Khi đó, ông Trưởng-giả ngồi nơi tòa sư tử thấy con bèn nhớ biết, lòng rất vui mừng mà tự nghĩ rằng: “Của cải kho tàng của ta nay đã có người giao phó rồi, ta thường nghĩ nhớ đứa con này làm sao gặp được, nay bỗng nó tự đến rất vừa chỗ muốn của ta, ta tuy tuổi già còn vẫn tham tiếc”. Ông liền sai người hầu cận đuổi gấp theo bắt lại.Lúc ấy, kẻ sứ giả chạy mau qua bắt, gã cùng tử kinh ngạc lớn tiếng kêu oan: “Tôi không hề xúc phạm, cớ sao lại bị bắt?” Kẻ sứ giả bắt nó càng gấp cưỡng dắt đem về. Khi đó gã cùng tử tự nghĩ không tội chi mà bị bắt bớ đây chắc định phải chết, lại càng sợ sệt mê ngất ngã xuống đất.Người cha xa thấy vậy bèn nói với kẻ sứ giả rằng: “Không cần người đó, chớ cưỡng đem đến, lấy nước lạnh rưới trên mặt cho nó tỉnh lại đừng nói chi với nó”. Vì sao? Cha biết con mình ý chí hạ liệt, tự biết mình giàu sang làm cho con khiếp sợ. Biết chắc là con rồi mà dùng phương tiện chẳng nói với người khác biết là con mình. Kẻ sứ giả nói với cùng tử: “Nay ta thả ngươi đi đâu tùy ý”.

Gã cùng tử vui mừng được điều chưa từng có, từ dưới đất đứng dậy, qua đến xóm nghèo để tìm cầu sự ăn mặc.

5.-Bấy giờ ông Trưởng-giả toan muốn dụ dẫn người con mà bày chước phương tiện, mật sai hai người, hình sắc tiều tụy không có oai đức: “Hai người nên qua xóm kia từ từ nói với gã cùng tử, nơi đây có chỗ làm trả giá gấp bội. Gã cùng tử nếu chịu thời dắt về đây khiến làm. Nếu nó có hỏi muốn sai làm gì? Thì nên nói với nó rằng: Thuê người hốt phân, chúng ta hai người cũng cùng ngươi chung nhau làm”. Khi đó hai người sứ liền tìm gã cùng tử, rồi thuật đủ việc như trên.

6.-Bấy giờ gã cùng tử trước hỏi lấy giá cả liền đến hốt phân. Người cha thấy con, thương xót và quái lạ. Lại một ngày khác ông ở trong cửa sổ xa thấy con ốm o tiều tụy, phân đất bụi bặm dơ dáy không sạch. Ông liền cởi chuỗi ngọc, áo tốt mịn màng cùng đồ trang sức, lại mặc áo thô rách trỉn dơ, bụi đất lấm thân, tay mặt cầm đồ hốt phân, bộ dạng đáng nể sợ, bảo những người làm rằng: “Các ngươi phải siêng

làm việc chớ nên lười nghỉ!” Dùng phương tiện đó được đến gần người con. Lúc sau lại bảo con rằng: “Gã nam tử này! Ngươi thường làm ở đây đừng lại đi nơi khác, ta sẽ trả thêm giá cho ngươi; những đồ cần dùng như loại bồn, chậu, gạo, bột, muối, dấm, ngươi chớ tự nghi ngại. Cũng có kẻ tớ già hèn hạ, nếu cần ta cấp cho, nên phải an lòng, ta như cha của ngươi chớ có sầu lo”. Vì sao? Vì ta tuổi tác già lớn mà ngươi thì trẻ mạnh, ngươi thường trong lúc làm việc không lòng dối khi trễ nải giận hờn nói lời thán oán, đều không thấy ngươi có các điều xấu đó như các người làm công khác. Từ ngày nay nhẫn sau như con đẻ của ta. Tức thời Trưởng-giả lại đặt tên cho cùng tử gọi đó là “con”. Khi đó gã cùng tử, dầu mừng việc tình cờ đó song vẫn còn tự cho mình là khách, là người làm công hèn, vì cớ đó mà trong hai mươi năm thường sai hốt phân, sau đó lòng gã mới lần thể tin ra vào không ngại sợ, nhưng chỗ gã ở cũng vẫn nguyên chỗ cũ.

7.-Thế-Tôn! Bấy giờ Trưởng-giả có bệnh, tự biết mình không bao lâu sẽ chết mới bảo cùng tử rằng: “Ta nay rất nhiều vàng bạc, trân, báu, kho đụn tràn đầy, trong đó nhiều ít chỗ đáng xài dùng ngươi phải biết hết đó. Lòng ta như thế, ngươi nên thể theo ý ta. Vì sao? Nay ta cùng ngươi bèn là không khác, nên gắng dụng tâm chớ để sót mất”. Khi ấy cùng tử liền nhận lời bảo lãnh biết các của vật, vàng, bạc, trân, báu và các kho tàng, mà trọn không có ý mong lấy của đáng chừng bữa ăn, chỗ của gã ở vẫn tại chỗ cũ, tâm chí hạ liệt cũng chưa bỏ được.

8.-Lại trải qua ít lâu sau, cha biết ý chí con lần đã thông thái trọn nên chí lớn, tự chê tâm ngày trước. Đến giờ sắp chết, ông gọi người con đến và hội cả thân tộc, quốc- vương, quan đại-thần, dòng sát-lợi, hàng cư-sĩ, khi đã nhóm xong, ông liền tuyên bố rằng: “Các Ngài nên rõ, người này là con ta, của ta sinh ra, ngày trước trong thành nọ, bỏ ta trốn đi, nổi trôi khổ sở, hơn năm mươi năm, nó vốn tên ấy, còn ta tên ấy. Xưa ta ở tại thành này lòng lo lắng tìm kiếm, bỗng ở nơi đây gặp được nó. Nó thật là con ta, ta thật là cha nó. Nay ta có tất cả bao nhiêu của cải, đều là của con ta có, trước đây của cải cho ra thâu vào, con ta đây coi biết”. Thế-Tôn! Khi đó gả cùng tử nghe cha nói như thế, liền rất vui mừng được điều chưa từng có, mà nghĩ rằng: “Ta vốn không có lòng mong cầu, nay kho tàng báu này tự nhiên mà đến”.

9.-Thế-Tôn! Ông phú Trưởng-giả đó là đức Như-Lai, còn chúng con đều giống như con của Phật. Đức Như-Lai thường nói chúng con là con. Thưa Thế-Tôn! Chúng con vì ba món khổ53 nên ở trong sinh tử chịu các sự đau đớn mê lầm không hiểu biết, ưa thích các pháp tiểu thừa. Ngày nay đức Thế-Tôn khiến chúng con suy nghĩ dọn trừ những phân dơ các pháp hý luận54. Chúng con ở trong đó siêng gắng tinh tấn được đến Niết-bàn, cái giá một ngày. Đã được đây rồi lòng rất vui mừng tự cho là đủ, mà tự nói rằng: Ở trong pháp của Phật; do siêng năng tinh tấn nên chỗ được rộng nhiều. Nhưng đức Thế-Tôn trước biết chúng con lòng ưa muốn sự hèn tệ, ham nơi pháp tiểu thừa, chúng con bèn bị Phật buông bỏ chẳng vì phân biệt rằng: Các ông sẽ có phần bảo tàng tri kiến của Như-Lai. Đức Thế-Tôn dùng sức phương tiện nói bày trí huệ của Như-Lai. Chúng con theo Phật được giá Niết-bàn một ngày, cho là được nhiều rồi, đối với pháp Đại-thừa này không có chí cầu. Chúng con lại nhân trí huệ của Phật, vì các vị Bồ-Tát mà chỉ bày diễn nói, nhưng chính tự mình lại không có chí muốn nơi pháp đó. Vì sao? Đức Phật biết chúng con ưa nơi pháp tiểu thừa, nên dùng sức phương tiện thuận theo chúng con mà nói pháp, chúng con không tự biết thật là Phật tử. Ngày nay chúng con mới biết đức Thế-Tôn ở nơi trí huệ của Phật không có lẫn tiếc. Vì sao? Chúng con từ xưa đến nay thật là Phật tử mà chỉ ưa nơi pháp tiểu thừa, nếu chúng con có tâm ham Đại-thừa, thì Phật vì chúng con mà nói pháp Đại-thừa. Ở trong kinh này chỉ nói pháp nhứt thừa. Lúc xưa đức Phật ở trước Bồ-Tát chê trách Thanh-văn ham pháp tiểu thừa.

Nhưng đức Phật thật dùng Đại-thừa để giáo hóa, vì thế nên chúng con nói vốn không có lòng mong cầu mà nay báu lớn của đấng Pháp-vương tự nhiên đến, như chỗ nên được của Phật tử đều đã được đó.

Bấy giờ ngài Ma-ha Ca-Diếp muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

10.-Chúng con ngày hôm nay

Nghe âm giáo của Phật

Lòng hớn hở mừng rỡ

Được pháp chưa từng có.

Phật nói hàng Thanh-văn

Sẽ được thành quả Phật

Đống châu báu vô thượng

Chẳng cầu tự nhiên được.

Ví như gã đồng tử

Thơ bé không hiểu biết

Bỏ cha trốn chạy đi

Đến cõi nước xa khác

Nổi trôi khắp nước ngoài

Hơn năm mươi năm dài

Cha gã lòng buồn nhớ

Kiếm tìm khắp bốn phương

Kiếm tìm đó đã mỏi

Liền ở lại một thành

Xây dựng nên nhà cửa

Năm món dục tự vui.

Nhà ông giàu có lớn

Nhiều những kho vàng, bạc

Xa-cừ, ngọc mã-não

Trân châu, ngọc lưu ly

Voi ngựa cùng trâu dê

Kiệu, cán đủ xe cộ

Ruộng đất và tôi tớ

Nhân dân rất đông nhiều

Xuất nhập thâu lời lãi

Bèn khắp đến nước khác

Khách thương người buôn bán

Không xứ nào không có,

Nghìn muôn ức chúng hội

Vây quanh cung kính ông,

Thường được bậc vua chúa

Mến yêu nhớ tưởng đến,

Các quan, hạng hào tộc

Đều cũng đồng tôn trọng

Vì có các sự duyên

Người tới lui rất đông,

Giàu mạnh như thế đó

Có thế lực rất lớn

Mà tuổi đã già nua

Lại càng buồn nhớ con

Ngày đêm luống suy nghĩ

Giờ chết toan sắp đến

Con thơ dại bỏ ta

Hơn năm mươi năm tròn,

Các của vật kho tàng

Sẽ phải làm thế nào?

11.-Bấy giờ gã cùng tử

Đi tìm cầu ăn mặc

Ấp này đến ấp khác

Nước này sang nước nọ,

Hoặc có khi được của

Hoặc có lúc không được,

Đói thiếu hình gầy gò

Thân thể sinh ghẻ lác.

Lần lựa đi trải qua

Đến thành cha gã ở

Xoay vần làm thuê mướn

Bèn đến trước nhà cha.

Lúc ấy ông Trưởng-giả

Đang ở trong nhà ông

Giăng màn châu báu lớn

Ngồi tòa sư-tử cao

Hàng quyến thuộc vây quanh

Đông người đứng hầu hạ,

Hoặc có người tính toán

Vàng, bạc, cùng vật báu

Của cải ra hoặc vào

Biên chép ghi giấy tờ.

Gã cùng tử thấy cha

Quá mạnh giàu tôn nghiêm

Cho là vị quốc-vương

Hoặc là đồng bậc vua,

Kinh sợ tự trách thầm

Tại sao lại đến đây?

Lại thầm tự nghĩ rằng:

Nếu ta đứng đây lâu

Hoặc sẽ bị bức ngặt

Ép buộc sai khiến làm.

Suy nghĩ thế đó rồi

Rảo chạy mà đi thẳng

Hỏi thăm xóm nghèo nàn

Muốn qua làm thuê mướn.

12.-Lúc bấy giờ Trưởng-giả

Ngồi trên tòa sư-tử

Xa trông thấy con mình

Thầm lặng mà ghi nhớ,

Ông liền bảo kẻ sứ

Đuổi theo bắt đem về.

Gã cùng tử sợ kêu

Mê ngất ngã trên đất

Người này theo bắt tôi

Chắc sẽ bị giết chết

Cần gì đồ ăn mặc

Khiến tôi đến thế này!

Trưởng-giả biết con mình

Ngu dại lòng hẹp hèn

Chẳng chịu tin lời ta

Chẳng tin ta là cha

Ông liền dùng phương tiện

Lại sai hai người khác

Mắt chột, thân lùn xấu

Hạng không có oai đức!

Các người nên bảo nó

Rằng ta sẽ thuê nó

Hốt dọn các phân nhơ

Trả giá bội cho nó.

Gã cùng tử nghe rồi

Vui mừng theo sứ về

Vì dọn các phân nhơ

Sạch sẽ các phòng nhà

Trưởng-giả trong cửa sổ

Thường ngó thấy con mình

Nghĩ con mình ngu dại

Ưa thích làm việc hèn.

Lúc đó ông Trưởng-giả

Mặc y phục cũ rách

Tay cầm đồ hốt phân

Qua đến chỗ con làm

Phương tiện lần gần gũi

Bảo rằng: ráng siêng làm!

Đã thêm giá cho ngươi

Và cho dầu thoa chân

Đồ ăn uống đầy đủ

Thêm nệm chiếu đầy ấm

Cặn kẽ nói thế này:

Ngươi nên siêng làm việc!

Rồi lại dịu dàng bảo

Như con thật của ta.

13.-Ông Trưởng-giả có trí

Lần lần cho ra vào

Trải qua hai mươi năm

Coi sóc việc trong nhà,

Chỉ cho biết vàng, bạc,

Ngọc trân châu, pha-lê

Các vật ra hoặc vào

Đều khiến gã biết rõ.

Gã vẫn ở ngoài cửa

Nương náu nơi am tranh

Tự nghĩ phận nghèo hèn

Ta không có vật đó.

Cha biết lòng con mình

Lần lần đã rộng lớn

Muốn giao tài vật cho

Liền nhóm cả thân tộc

Quốc vương các đại thần

Hàng sát-lợi, cư-sĩ

Rồi ở trong chúng này

Tuyên nói chính con ta

Bỏ ta đi nước khác

Trải hơn năm mươi năm,

Từ gặp con đến nay

Đã hai mươi năm rồi

Ngày trước ở thành kia

Mà mất đứa con này

Ta đi tìm khắp nơi

Bèn đến ngụ nơi đây

Phàm của cải ta có

Nhà cửa cùng nhân dân

Thảy đều phó cho nó

Mặc tình nó tiêu dùng.

Người con nhớ xưa nghèo

Ý chí rất kém hèn

Nay ở nơi cha mình

Được quá nhiều châu báu

Và cùng với nhà cửa

Gồm tất cả tài vật,

Lòng rất đỗi vui mừng

Được điều chưa từng có.

14.-Đức Phật cũng như thế

Biết con ưa tiểu thừa

Nên chưa từng nói rằng

Các ngươi sẽ thành Phật

Mà chỉ nói chúng con

Được có đức vô lậu

Trọn nên quả tiểu thừa

Hàng Thanh-văn đệ tử

Đức Phật bảo chúng con

Nói đạo pháp tối thượng

Người tu tập pháp này

Sẽ được thành Phật quả

Chúng con vâng lời Phật

Vì các Bồ-Tát lớn

Dùng các món nhân duyên

Cùng các món thí dụ

Bao nhiêu lời lẽ hay

Để nói đạo vô thượng.

Các hàng Phật tử thảy

Từ nơi con nghe pháp

Ngày đêm thường suy gẫm

Tinh tấn siêng tu tập.

Bấy giờ các đức Phật

Liền thọ ký cho kia:

Các ông ở đời sau

Sẽ được thành Phật đạo.

Pháp mầu rất bí tàng

Của tất cả các Phật

Chỉ để vì Bồ-Tát

Mà dạy việc thật đó,

Nhưng chẳng vì chúng con

Nói pháp chân yếu này

Như gã cùng tử kia

Được gần bên người cha

Dầu lãnh biết các vật

Nhưng lòng chẳng mong cầu,

Chúng con dầu diễn nói

Tạng pháp báu của Phật

Tự mình không chí nguyện

Cũng lại như thế đó.

15.-Chúng con diệt bề trong55

Tự cho là đã đủ

Chỉ xong được việc này

Lại không biết việc khác.

Chúng con dầu có nghe

Pháp tịnh cõi nước Phật

Cùng giáo hóa chúng sinh

Đều không lòng ưa vui.

Như thế là vì sao?

Vì tất cả các pháp

Thảy đều là không lặng

Không sinh cũng không diệt

Không lớn cũng không nhỏ

Vô lậu và vô vi,

Suy nghĩ thế đó rồi

Chẳng sinh lòng ưa muốn.

Chúng con đã từ lâu

Đối với trí huệ Phật

Không tham không ưa thích

Không lại có chí nguyện,

Mà đối với pháp mình

Cho đó là rốt ráo.

Chúng con từ lâu nay

Chuyên tu tập pháp không

Được thoát khỏi hoạn nạn •                                    •       •

Khổ não của ba cõi

Trụ trong thân rốt sau

Hữu dư y Niết-bàn56

Đức Phật dạy bảo ra

Chứng được đạo chẳng luống

Thời là đã có thể

Báo được ơn của Phật.

Chúng con dầu lại vì

Các hàng Phật tử thảy

Tuyên nói pháp Bồ-Tát

Để cầu chứng Phật đạo

Mà mình đối pháp đó

Trọn không lòng mong muốn

Đấng Đạo-Sư buông bỏ

Vì xem biết lòng con

Ban đầu không khuyên gắng

Nói những lợi có thực

Như ông Trưởng-giả giàu

Biết con chí kém hèn

Bèn dùng sức phương tiện

Để hoà phục tâm con

Vậy sau mới giao phó

Tất cả tài vật báu

Đức Phật cũng thế đó

Hiện ra việc ít có

Biết con ưa tiểu thừa

Bèn dùng sức phương tiện

Điều phục tâm của con

Rồi mới dạy trí lớn.

Chúng con ngày hôm nay

Được pháp chưa từng có

Chẳng phải chỗ trước mong

Mà nay tự nhiên được

Như gã cùng tử kia

Được vô lượng của báu.

16.-Thế-Tôn! Chúng con nay

Được đạo và chứng quả

Ở nơi pháp vô lậu

Được huệ nhãn thanh tịnh

Chúng con từ lâu nay

Gìn tịnh giới Phật chế

Mới ở ngày hôm nay

Được hưởng quả báo đó,

Trong pháp của Pháp-vương

Lâu tu-hành phạm hạnh

Ngày nay được vô lậu

Quả báo lớn vô thượng

Chúng con ngày hôm nay

Mới thật là Thanh-văn

Đem tiếng đạo của Phật

Cho tất cả đều nghe

Chúng con ngày hôm nay

Thật là A-la-hán

Ở nơi các thế gian

Trời, người và ma, phạm,

Khắp ở trong chúng đó

Đáng lãnh của cúng dường

Ơn lớn của Thế-Tôn

Đem việc ít có này

Thương xót dạy bảo cho

Làm lợi ích chúng con

Trải vô lượng ức kiếp

Ai có thể đền được.

Tay lẫn chân cung cấp

Đầu đảnh lễ cung kính

Tất cả đều cúng dường

Đều không thể đền được.

Hoặc dùng đầu đội Phật

Hai vai cùng cõng vác

Trong kiếp số hằng sa

Tận tâm mà cung kính,

Lại đem dưng đồ ngon

Y phục báu vô lượng

Và các thứ đồ nằm

Cùng các món thuốc thang

Gỗ ngưu-đầu chiên-đàn

Và các vật trân báu

Để dựng xây tháp miếu

Y báu lót trên đất

Như các việc trên đây

Đem dùng cúng dường

Phật Trải kiếp số hằng sa

Cũng không đền đáp được.

Các Phật thật ít có

Đấng vô lượng vô biên

Đến bất-khả tư-nghì

Đủ sức thần thông lớn,

Bậc vô lậu vô vi

Là vua của các Pháp

Hay vì kẻ hạ liệt

Nhẫn việc cao thượng đó,

Hiện lấy tướng phàm phu

Tùy cơ nghi dạy nói

Các Phật ở nơi pháp

Được sức rất tự tại

Biết các hàng chúng sinh

Có những điều ưa muốn

Và chí lực của nó

Theo sức nó kham nhiệm

Dùng vô lượng thí dụ

Mà vì chúng nói pháp

Tùy theo các chúng sinh

Trồng căn lành đời trước

Lại biết đã thành thục

Hay là chưa thành thục

Suy lường những điều đó

Phân biệt biết rõ rồi

Ở nơi đạo nhất thừa

Tùy cơ nghi nói ba.

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Quyển thứ hai

Bậc thượng căn lãnh ngộ, hàng trung hạ nổi nghi, mở quyền bày thật hội ba thời. Pháp mầu tuyệt sự nói suy, của báu không riêng tư, toàn giao phó cho con nhà.

NAM-MÔ PHÁP-HOA HỘI-THƯỢNG PHẬT BỒ-TÁT. (3 lần)

Đức Như-Lai dụ nói ba cõi làm nhà, ngoài cửa ba cõi bày ba thứ xe, các con đua giành ồn ào, Trưởng-giả mừng khoe, thọ ký quả Phật không sai.

NAM-MÔ VỊ-LAI HOA-QUANG PHẬT.

(3 lần)

 

 

Sự tích Tả kinh thoát khổ

Nhà Đường, niên hiệu Long-Sóc năm thứ ba, xứ Trường- An, mẹ vợ ông Lưu-Công-Tín chết.

Không bao lâu cô họ Trần, vợ ông Tín, cũng bỗng chết, thần-hồn đi đến một ngục đá, thấy mẹ mình ở trong cửa đá thọ nhiều sự khổ.

Khóc bảo con gái rằng: “Mau vì mẹ tả một bộ kinh Pháp- Hoa ngõ hầu thoát khỏi tội này”. Nói vừa xong cửa đá liền khép lại.

Cô họ Trần sống lại, thuật chuyện gặp mẹ với chồng. Ông Tín nhờ ông Triệu-Sư-Tử tả kinh, ông Triệu bèn đem một bộ kinh Pháp-Hoa hiện đã thành tả rất tốt giao cho ông Tín sửa sang, mà bộ kinh đó vốn là của một người họ Phạm ra tiền mướn tả, mà ông Tín thật chưa biết cũng tin là ông Triệu tả cho mình.

Không bao lâu, cô họ Trần lại nằm chiêm bao thấy mẹ đòi kinh, cô nói rằng đã tả xong rồi. Mẹ liền khóc rằng: “Mẹ chính vì bộ kinh đó mà càng bị khổ thêm. Bộ kinh đó vốn là nhà của họ Phạm tu phước, sao lại cướp làm công của mình?” Sau khi thức dậy, cô Trần và ông Tín đi hỏi thăm lại, thời quả thực họ Phạm ra hai trăm tả kinh mà chính là bộ trên đó.

Vợ chồng liền thuê người tả một bộ khác để cúng dường hồi hướng công đức cho mẹ.

Than ôi! Công đức tả kinh hay ấn tống lớn biết là dường nào? Tội nặng bị khổ ở địa ngục nhờ người tả một bộ kinh Pháp-Hoa mà còn có đủ phước để thoát khổ huống nữa là mình tự ra công tiền ư!

Thích Nghĩa

  1. 52. TÍN: lòng tin. GIẢI: Hiểu rõ.
  2. 53. Khổ khổ, hoại khổ, hành khổ.
  3. 54. Hý-LUẬN: Lời luận nói suông không sự thật, đồng nghĩa với hư vọng.
  4. 55. Diệt lòng phiền-não: 1. Kiến sở đoạn 2. Tư sở đoạn.
  5. 56. NIẾT-BÀN: Tịch tịnh; VIÊN TỊCH: nghĩa là vắng bặt. Còn vọng động phiền não là còn tạo nghiệp thọ báo sinh-tử. Dứt hẳn vọng động phiền não khỏi báo sinh tử yên lặng nhàn vui nên gọi Niết-bàn.

HỮU-DƯ Y: Thân người hiện còn thừa lại rốt sau cả.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Quyển thứ ba

Đời Diêu-Tần, Ngài Tam-Tạng Pháp-Sư

Cưu-Ma-La-Thập phụng chiếu dịch.

PHẨM “DƯỢC THẢO DỤ” THỨ NĂM

 

1.-Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo ngài Ma-ha Ca-Diếp các vị đại đệ tử: “Hay thay! Hay thay! Ca-Diếp. Khéo nói được công đức chân thật của đức Như-Lai. Đúng như lời các ông vừa nói; đức Như- Lai lại còn có vô lượng vô biên a-tăng-kỳ công đức, các ông dầu trải qua vô lượng ức kiếp nói cũng không hết được”. Ca-Diếp nên biết! Đức Như-Lai là vua của các pháp nếu có nói ra lời chi đều không hư dối vậy. Phật ở nơi tất cả pháp dùng sức trí huệ phương tiện mà diễn nói đó, pháp của Phật nói thảy đều đến bậc nhứt-thiết-trí57. Đức Như Lai xem biết chỗ quy thú58 của tất cả pháp; cũng rõ biết chỗ tâm sở hành59 của tất cả chúng sinh thông thấu không ngại. Phật lại ở nơi các pháp rốt ráo rõ biết hết, chỉ bày tất cả trí huệ cho các chúng sinh.

2.-Ca-Diếp! Thí như trong cõi tam- thiên đại-thiên nơi núi, sông, khe, hang, ruộng, đất sinh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc, bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác. Mây dầy bủa giăng trùm khắp cõi tam-thiên đại-thiên60 đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi nhuần thấm, cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ, hoặc thứ gốc chỉ vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn. Các giống cây nhỏ lớn, tùy hạng thượng, trung, hạ mà hấp thụ khác nhau. Một cụm mây tuôn mưa xuống xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ được sinh trưởng, đơm hoa kết trái. Dầu rằng một cõi đất sinh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác.

3.-Ca-Diếp nên biết! Đức Như-Lai cũng lại như thế, hiện ra nơi đời như là vừng mây lớn nổi lên, dùng giọng tiếng lớn vang khắp thế giới cả trời, người, A-tu-la, như mây lớn kia trùm khắp cõi nước tam- thiên đại-thiên. Phật ở trong đại chúng mà xướng lời nầy: “Ta là đấng Như-Lai, Ứng- cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn. Người chưa được độ thời làm cho được độ, người chưa tỏ ngộ thời làm cho tỏ ngộ, người chưa an thời làm cho được an, người chưa chứng Niết-bàn thời làm cho chứng Niết-bàn, đời nay và đời sau Phật đều biết đúng như thật. Ta là bậc nhứt-thiết-trí, bậc nhứt-thiết-kiến, là bậc tri đạo, bậc khai đạo, bậc thuyết đạo. Các ngươi, hàng trời, người, A-tu-la đều nên đến đây vì để nghe pháp vậy”. Bấy giờ có vô số nghìn muôn ức loài chúng sinh đi đến chỗ đức Phật mà nghe Pháp. Lúc đó, đức Như Lai xem xét các căn lợi độn, tinh tấn hay giải đãi của chúng sinh đó, thuận vừa sức nó kham được mà vì chúng nói pháp, chủng loại nhiều vô lượng, Phật đều khiến vui mừng được nhiều lợi lành. Các chúng sinh nầy nghe pháp rồi, hiện đời an ổn, đời sau sinh về chỗ lành, do đạo được thọ hưởng vui mà cũng được nghe pháp, đã nghe pháp rồi lìa khỏi các chướng ngại ở trong các pháp theo sức mình kham được lần lần đều được vào đạo. Như mây lớn kia mưa rưới khắp tất cả cỏ cây lùm rừng và các cỏ thuốc, theo giống của mỗi thứ đều được đượm nhuần đầy đủ, đều được sinh trưởng. Đức Như-Lai nói pháp một tướng một vị, nghĩa là: Tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, rốt ráo đến bậc “nhứt-thiết- chủng-trí”. Có chúng sinh nào nghe pháp của Như-Lai hoặc thọ trì đọc tụng, đúng như lời mà tu hành, được công đức tự mình không hay biết. Vì sao? Vì chỉ có Như-Lai là biết chủng tướng thể tánh của chúng sinh đó: Nhớ việc gì? Nghĩ việc gì? Tu việc gì? Nhớ thế nào? Nghĩ thế nào? Tu thế nào? Dùng pháp gì để nhớ? Dùng pháp gì để nghĩ? Dùng pháp gì để tu? Dùng pháp gì để được pháp gì? Chúng sinh ở nơi các bậc, chỉ có đức Như-Lai thấy đó đúng như thật, rõ ràng không bị ngại. Như cây cối lùm rừng các cỏ thuốc kia không tự biết tánh thượng, trung, hạ của nó. Đức Như-Lai biết pháp một tướng một vị ấy, nghĩa là: Tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo, Niết-bàn thường tịch diệt, trọn về nơi không, Phật biết như thế rồi xem xét tâm ưa muốn của chúng sinh mà dắt dìu nó, cho nên chẳng liền vì chúng vội nói “nhứt-thiết-chủng- trí”. Ca-Diếp! Các ông rất là hy hữu, có thể rõ biết đức Như-Lai tùy cơ nghi nói pháp, hay tin hay nhận. Vì sao? Vì các đức Phật Thế-Tôn tùy cơ nghi nói pháp khó hiểu khó biết. Khi đó đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

4.-Pháp Vương phá các cõi

Hiện ra trong thế gian

Theo tánh của chúng sinh

Dùng các cách nói pháp

Đức Như-Lai tôn trọng

Trí huệ rất sâu xa

Lâu giữ pháp yếu này

Chẳng vội liền nói ra

Người trí nếu được nghe

Thời có thể tin hiểu,

Kẻ không trí nghi hối

Thời bèn là mất hẳn.

Ca-Diếp! Vì cớ đó

Theo sức chúng nói pháp

Dùng các món nhân duyên

Cho chúng được chánh kiến

Ca-Diếp! ông nên biết

Thí như vầng mây lớn

Nổi lên trong thế gian

Che trùm khắp tất cả

Mây trí huệ chứa nhuần

Chớp nhoáng sáng chói lòa

Tiếng sấm xa vang động

Khiến mọi loài vui đẹp

Nhật quang bị che khuất

Trên mặt đất mát mẻ

Mây mù sa bủa gần

Dường có thể nắm tới.

Trận mưa đó khắp cùng

Bốn phương đều xối xuống

Dòng nước tuôn vô lượng

Cõi đất đều rút đầy

Nơi núi sông hang hiểm

Chỗ rậm rợp sinh ra

Những cây cối cỏ thuốc

Các thứ cây lớn nhỏ

Trăm giống lúa mộng mạ

Các thứ mía cùng nho

Nhờ nước mưa đượm nhuần

Thảy đều tươi tốt cả.

Đất khô khắp được rưới

Thuốc cây đều sum sê

Vầng mây kia mưa xuống

Nước mưa thuần một vị

Mà cỏ cây lùm rừng

Theo mỗi thứ đượm nhuần

Tất cả các giống cây

Hạng thượng, trung cùng hạ

Xứng theo tánh lớn nhỏ

Đều được sinh trưởng cả.

Gốc thân nhánh và lá

Trổ hoa trái sắc vàng

Một trận mưa rưới đến

Cây cỏ đều thấm mướt

Theo thể tướng của nó

Tính loại chia lớn nhỏ

Nước đượm nhuần vẫn một

Mà đều được sum sê.

5.-Đức Phật cũng như thế

Hiện ra nơi trong đời

Ví như vầng mây lớn

Che trùm khắp tất cả

Đã hiện ra trong đời

Bèn vì các chúng sinh

Phân biệt diễn nói bày

Nghĩa thật của các pháp

Đấng Đại-Thánh Thế-Tôn

Ở trong hàng trời người

Nơi tất cả chúng hội

Mà tuyên nói lời nầy:

Ta là bậc Như-Lai

Là đấng Lưỡng-Túc-Tôn61

Hiện ra nơi trong đời

Dường như vầng mây lớn

Thấm nhuần khắp tất cả

Những chúng sinh khô khao

Đều làm cho lìa khổ

Được an ổn vui sướng

Hưởng sự vui thế gian

Cùng sự vui Niết-bàn.

Các chúng trời người nầy

Một lòng khéo lắng nghe

Đều nên đến cả đây

Ra mắt đấng vô thượng.

Ta là đấng Thế-Tôn

Không có ai bằng được

Muốn an ổn chúng sinh

Nên hiện ra trong đời

Vì các đại chúng nói

Pháp cam lồ trong sạch

Pháp đó thuần một vị

Giải thoát Niết-bàn thôi.

Dùng một giọng tiếng mầu

Diễn xướng nghĩa nhiệm nầy

Đều thường vì Đại-thừa

Mà kết làm nhân duyên.

Ta xem tất cả chúng

Khắp đều bình đẳng cả

Không có lòng bỉ thử

Cùng với tâm yêu ghét

Ta không chút tham đắm

Cũng không có hạn ngại

Hằng vì tất cả chúng

Mà bình đẳng nói pháp

Như khi vì một người

Lúc chúng đông cũng vậy.

Thường diễn nói pháp luôn

Từng không việc gì khác

Ngồi, đứng, hoặc đến, đi

Trọn không hề nhàm mỏi

Đầy đủ cho thế gian

Như mưa khắp thấm nhuần

Sang, hèn cùng thượng, hạ

Giữ giới hay phá giới

Oai nghi được đầy đủ

Và chẳng được đầy đủ

Người chánh-kiến tà-kiến

Kẻ độn căn lợi căn

Khắp rưới cho mưa pháp

Mà không chút nhàm mỏi.

Tất cả hàng chúng sinh

Được nghe pháp của ta

Tùy sức mình lãnh lấy

Trụ ở nơi các bậc

Hoặc là ở trời, người

Làm Chuyển-luân thánh-vương

Trời Thích, Phạm, các vua

Đó là cỏ thuốc nhỏ

Hoặc rõ pháp vô lậu

Hay chứng được Niết-bàn

Khởi sáu pháp thần thông

Và được ba món minh

Ở riêng trong núi rừng

Thường hành môn thiền định

Chứng được bậc Duyên-giác

Là cỏ thuốc bậc trung.

Hoặc cầu bực Thế-Tôn

Ta sẽ được thành Phật

Tu hành tinh tấn, định

Là cỏ thuốc bậc thượng

Lại có hàng Phật tử

Chuyên tâm nơi Phật đạo

Thường thực hành từ bi

Tự biết mình là Phật

Quyết định không còn nghi

Gọi đó là cây nhỏ.

Hoặc an trụ thần thông

Chuyển bất thối pháp luân

Độ vô lượng muôn ức

Trăm nghìn loài chúng sinh

Bồ-Tát hạng như thế

Gọi đó là cây lớn.

Phật chỉ bình đẳng nói

Như nước mưa một vị

Theo căn tánh chúng sinh

Mà hưởng thọ không đồng

Như những cỏ cây kia

Được đượm nhuần đều khác.

6.-Phật dùng món dụ nầy

Để phương tiện chỉ bày

Các thứ lời lẽ hay

Đều diễn nói một pháp

Ở nơi trí huệ Phật

Như một giọt trong biển.

Ta rưới trận mưa pháp

Đầy đủ khắp thế gian

Pháp mầu thuần một vị

Tùy sức riêng tu hành,

Như thể lùm rừng kia

Và cỏ thuốc những cây

Tùy giống lớn hay nhỏ

Lần lần thêm sum sê

Pháp của các đức Phật

Thường dùng thuần một vị

Khiến cho các thế gian

Đều khắp được đầy đủ

Lần lựa siêng tu hành

Rồi đều được đạo quả.

Hàng Thanh-văn, Duyên-giác,

Ở nơi chốn núi rừng,

Trụ thân hình rốt sau

Nghe Phật Pháp được quả

Đó gọi là cỏ thuốc

Đều được thêm lớn tốt

Nếu các vị Bồ-Tát

Trí huệ rất vững bền

Rõ suốt cả ba cõi

Cầu được thừa tối thượng

Đó gọi là cây nhỏ

Mà được thêm lớn tốt.

Lại có vị trụ thiền

Được sức thần thông lớn

Nghe nói các pháp không

Lòng rất sinh vui mừng

Phóng vô số hào quang

Độ các loài chúng sinh

Đó gọi là cây lớn

Mà được thêm lớn tốt

Như thế, Ca-Diếp này!

Đức Phật nói pháp ra

Thí như vầng mây lớn

Dùng nước mưa một vị

Đượm nhuần nơi hoa người

Đều được kết trái cả.

Ca-Diếp ông phải biết

Ta dùng các nhân duyên

Các món thí dụ thảy

Để chỉ bày đạo Phật

Đó là ta phương tiện

Các đức Phật cũng thế

Nay ta vì các ông

Nói việc rất chân thật

Các chúng thuộc Thanh-văn

Đều chẳng phải diệt độ

Chỗ các ông tu hành

Là đạo của Bồ-Tát

Lần lần tu học xong

Thảy đều sẽ thành Phật.

 

Thích Nghĩa

  1. 57. “Nhứt-thiết chủng-trí” là trí của Phật, rõ thấu rành suốt ba thuở mười phương tất cả pháp thế-gian và xuất-thế-gian.
  2. 58. Chỗ về đến, tức là cội nguồn.
  3. 59. Lòng tưởng móng, suy nghĩ; mong cầu v.v...
  4. 60. Một thái dương-hệ gọi là 1 tiểu thế giới,
  1. 1. .000 tiểu thế-giới là 1 tiểu thiên thế-giới,
  2. 2..000 tiểu thiên là 1 trung-thiên,
  1. 3..000 trung-thiên là đại-thiên thế-giới.

Vậy đại-thiên thế-giới là ba lần nhân ngàn (1 T-G x 1000 x 1000 x 1000), nên gọi tam-thiên đại-thiên thế-giới, gồm có 1.000.000.000 thế-giới, là số thế-giới của cõi Ta-bà thuộc quyền giáo hóa của đức Thích-Ca.

61 LƯỠNG: Phúc đức và trí huệ 2 món. TÚC là đầy đủ.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “THỌ KÝ” THỨ SÁU

 

1.-Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài kệ đó rồi, bảo các đại chúng xướng lời thế nầy: “Ông Ma-Ha Ca-Diếp, đệ tử của Ta, ở đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các đức Thế Tôn, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, rộng nói vô lượng đại pháp của các đức Phật, ở nơi thân rốt sau được thành Phật hiệu là Quang-Minh Như Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh- hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế -gian-giải, Vô- thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên- Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn. Nước tên là Quang Đức, kiếp tên là Đại-Trang-Nghiêm. Phật thọ mười hai tiểu kiếp. Chánh pháp trụ thế hai mươi tiểu kiếp. Cõi nước tốt đẹp, không có các thứ dơ xấu, ngói sỏi gai góc cùng đồ tiện lợi chẳng sạch. Cõi đó bằng thẳng không có cao thấp hầm hố gò nổng, đất bằng lưu ly, cây báu thẳng hàng, vàng ròng làm dây để giăng bên đường, rải các hoa báu khắp nơi sạch sẽ. Bồ-Tát trong nước đó đông vô lượng nghìn ức, các chúng Thanh-văn cũng lại vô số. Không có việc ma, dầu là có ma và dân ma, nhưng đều hộ trì Phật Pháp”.

Bấy giờ, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2.-Bảo các Tỳ-kheo rằng:

Ta dùng mắt của Phật

Thấy ông Ca-Diếp nầy

Ở nơi đời vị lai

Quá vô số kiếp sau

Sẽ được thành quả Phật,

Mà ở đời vị lai

Cúng dường và kính thờ

Đủ ba trăm muôn ức

Các đức Phật Thế-Tôn.

Vì cầu trí huệ Phật

Mà tịnh tu phạm hạnh

Cúng dường đấng tối thượng

Nhị Túc-Tôn xong rồi

Tu tập trọn tất cả

Trí huệ bậc vô thượng

Ở nơi thân rốt sau

Được chứng thành làm Phật

Cõi đó rất thanh tịnh

Chất lưu ly làm đất

Nhiều thứ cây bằng báu

Thẳng hàng ở bên đường

Dây vàng giăng ngăn đường

Người ngó thấy vui mừng

Thường thoảng ra hương thơm

Rải các thứ hoa đẹp

Các món báu kỳ diệu

Dùng để làm trang nghiêm

Cõi đó đất bằng thẳng

Không có những gò hầm.

Các hàng chúng Bồ-Tát

Đông không thể xưng kể

Tâm các vị hòa dịu

Đến được thần thông lớn

Phụng trì các kinh điển

Đại thừa của các Phật.

Các hàng chúng Thanh-văn

Bậc vô lậu rốt sau

Là con của Pháp-vương

Cũng chẳng thể đếm biết

Nhẫn đến dùng thiên nhãn

Cũng chẳng thể đếm biết.

Phật đó sẽ sống lâu

Tuổi mười hai tiểu kiếp

Chánh pháp trụ ở đời

Đủ mười hai tiểu kiếp

Tượng pháp trụ ở đời

Cũng hai mươi tiểu kiếp

Đức Quang-Minh Thế-Tôn

Việc của Ngài như thế.

3.-Lúc bấy giờ, ngài đại Mục-Kiền- Liên, ngài Tu-Bồ-Đề, ngài đại Ca-Chiên- Diên v.v..., thảy đều run sợ một lòng chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, mắt không hề tạm rời, liền cùng nhau đồng nói kệ rằng:

Thế-Tôn rất hùng mãnh

Pháp vương trong dòng Thích

Vì thương xót chúng con

Mà ban giọng tiếng Phật.

Nếu rõ thâm tâm con

Được Phật thọ ký cho

Như dùng cam lộ rưới

Từ nóng được mát mẻ.

Như từ nước đói đến

Bỗng gặp cỗ tiệc vua

Còn ôm lòng nghi sợ

Chưa dám tự ăn liền

Nếu lại được vua bảo

Vậy sau mới dám ăn,

Chúng con cũng như vậy

Hằng nghĩ lỗi tiểu thừa

Chẳng biết làm thế nào

Được huệ vô thượng Phật,

Dầu nghe giọng tiếng Phật

Nói chúng con thành Phật

Còn ôm lòng lo sợ

Như chưa dám tự ăn

Nếu được Phật thọ ký

Mới là khoái an vui

Thế Tôn rất hùng mãnh

Thường muốn an thế gian

Xin thọ ký chúng con

Như đói cần bảo ăn.

5.-Lúc bấy giờ, Thế-Tôn biết tâm niệm của các vị đệ tử lớn bảo các thầy Tỳ-kheo rằng: “Ông Tu-Bồ-Đề đây đến đời vị lai phụng thờ ba trăm năm muôn ức na-do- tha62 đức Phật, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, đủ đạo Bồ-Tát, ở thân rốt sau được thành Phật hiệu: Danh-tướng Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự-trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn. Kiếp đó tên Hữu-Bảo, nước đó tên Bảo-Sinh. Cõi đó bằng phẳng, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, không có những gò, hầm, cát, sỏi, gai, chông cùng tiện lợi dơ bẩn; hoa báu trải đất khắp nơi sạch sẽ, nhân dân cõi đó đều ở đài báu và lầu gác quý đẹp. Hàng đệ tử Thanh-văn đông vô lượng vô biên, tính kể cùng thí dụ

đều không thể biết. Các chúng Bồ-Tát đông vô số nghìn muôn ức na-do-tha. Đức Phật thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ đời hai mươi tiểu kiếp, Đức Phật đó thường ở trên hư không vì chúng nói pháp độ thoát được vô lượng Bồ-Tát cùng chúng Thanh-văn”.

Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6.-Các chúng Tỳ-kheo nầy!

Nay ta bảo các ông

Đều nên phải một lòng

Lóng nghe lời ta nói.

Đệ tử lớn của ta

Là ông Tu-Bồ-Đề

Rồi sẽ được làm Phật

Hiệu gọi là Danh-Tướng

Sẽ phải cúng vô số

Muôn ức các đức Phật

Theo hạnh của Phật làm

Lần lần đủ đạo lớn.

Thân rốt sau sẽ được

Ba mươi hai tướng tốt

Xinh lịch đẹp đẽ lắm

Dường như núi báu lớn

Cõi nước của Phật đó

Trang nghiêm sạch thứ nhất

Chúng sinh nào được thấy

Không ai chẳng ưa mến

Phật ở trong cõi đó

Độ thoát vô lượng chúng.

Trong pháp hội của Phật

Các Bồ-Tát đông nhiều

Thảy đều bậc lợi căn

Chuyển pháp luân bất thối.

Cõi nước đó thường dùng

Bồ-Tát để trang nghiêm

Các chúng Thanh-văn lớn

Chẳng có thể đếm kể

Đều được ba món minh

Đủ sáu thứ thần thông

Trụ tám pháp giải thoát

Có oai đức rất lớn.

Đức Phật đó nói pháp

Hiện ra vô lượng món

Pháp thần thông biến hóa

Chẳng thể nghĩ bàn được.

Các hàng trời, nhân dân

Số đông như hằng sa

Đều cùng nhau chấp tay

Lóng nghe lời Phật dạy.

Đức Phật đó sẽ thọ

Tuổi mười hai tiểu kiếp

Chánh pháp trụ lại đời

Đủ hai mươi tiểu kiếp

Tượng pháp trụ ở đời

Cũng hai mươi tiểu kiếp.

7.-Lúc bấy giờ, đức Thế-Tôn lại bảo các chúng Tỳ-kheo: “Ta nay nói với các ông, ông đại Ca-Chiên-Diên này ở đời vị lai, dùng các đồ cúng mà cúng dường phụng thờ tám nghìn ức Phật cung kính tôn trọng. Sau khi các đức Phật diệt độ, ông đều dựng tháp miếu cao một nghìn do tuần, ngang rộng ngay bằng năm trăm do tuần, tháp miếu đó dùng bảy món báu: vàng, bạc, lưu ly, xa-cừ, mã-não, trân châu và mai khôi hợp lại thành, cúng dường tháp miếu bằng các thứ: hoa, chuỗi ngọc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan...... Sau thời kỳ đó sẽ lại cúng dường hai mươi muôn ức Phật cũng như trước, cúng dường các đức Phật đó rồi, đủ đạo Bồ-Tát sẽ được làm Phật hiệu: Diêm-Phù-Na-Đề- Kim-Quang Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh- biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế- gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng- phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn. Cõi đó bằng phẳng, đất bằng pha lê, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng bên đường, hoa đẹp trải đất khắp nơi sạch sẽ. Người được thấy đều vui mừng, không có bốn đường dữ: Địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh và A-tu-la. Các trời cùng người rất đông, các chúng Thanh- văn và Bồ-Tát vô lượng muôn ức trang nghiêm nước đó. Đức Phật đó thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi tiểu kiếp”. Lúc đó, Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8.-Các chúng Tỳ-kheo này!

Đều nên một lòng nghe

Như lời của ta nói

Chân thật không khác lạ.

Ông Ca-Chiên-Diên này

Sau sẽ dùng các món

Đồ cúng dường tốt đẹp

Mà cúng dường các Phật

Các đức Phật diệt rồi

Dựng tháp bằng bảy báu

Cũng dùng hoa và hương

Để cúng dường xá-lợi.

Thân rốt sau của ông

Được trí huệ của Phật

Thành bậc Đẳng-chánh-giác

Cõi nước rất thanh tịnh

Độ thoát được vô lượng

Muôn ức hàng chúng sinh

Đều được mười phương khác

Thường đến kính cúng dường,

Ánh sáng của Phật đó

Không ai có thể hơn

Đức Phật đó hiệu là:

Diêm-Phù-Kim-Quang Phật Bồ-Tát và Thanh-văn

Dứt tất cả hữu lậu

Đông vô lượng vô số

Trang nghiêm cõi nước đó.

9.-Lúc bấy giờ, đức Thế-Tôn lại bảo trong đại chúng: “Ta nay nói với các ông, ông đại Mục-Kiền-Liên đây sẽ dùng các món đồ cúng, cúng dường tám nghìn các đức Phật, cung kính tôn trọng. Sau khi các đức Phật diệt độ đều dựng tháp miếu cao, một nghìn do tuần, ngang rộng thẳng bằng năm trăm do tuần, dùng bảy món báu: Vàng, bạc, lưu ly, xa-cừ, mã-não, trân châu và mai khôi hợp lại thành. Đem các thứ hoa, chuỗi ngọc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu và tràng phan để cúng dường tháp. Sau lúc ấy lại sẽ cúng dường, hai trăm muôn ức các đức Phật cũng như trước, rồi sẽ được thành Phật hiệu: Đa-Ma La-Bạt-Chiên-Đàn-Hương Như -Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự- trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế- Tôn. Kiếp đó tên là Hỷ-Mãn, nước tên Ý Lạc, cõi đó bằng thẳng, chất pha lê làm đất, cây báu trang nghiêm, rải hoa trân châu khắp nơi sạch sẽ, người được thấy đều vui mừng. Các hàng trời người rất đông, Bồ-Tát và Thanh-văn số nhiều vô lượng, đức Phật đó thọ hai mươi bốn tiểu kiếp, chánh pháp trụ lại đời bốn mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ bốn mươi tiểu kiếp”. Khi đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

10.-Đệ tử của ta đây

Là đại Mục-Kiền-Liên

Bỏ thân người nầy rồi

Sẽ được gặp tám nghìn

Hai trăm muôn ức vị

Các đức Phật Thế-Tôn

Ông vì cầu Phật đạo

Nên cúng dường cung kính

Ở nơi các đức Phật

Thường tu trì phạm hạnh

Ở trong vô lượng kiếp

Phụng trì pháp của Phật.

Các đức Phật diệt rồi

Xây tháp bằng bảy báu

Tháp vàng rất cao rộng

Dùng hoa hương kỹ nhạc

Để dùng dâng cúng dường

Tháp miếu các đức Phật.

Lần lần được đầy đủ

Đạo hạnh Bồ-Tát rồi

Ở nơi nước Ý-Lạc

Mà được thành quả Phật

Hiệu là Đa-Ma-La

Bạt-Chiên-Đàn-Hương-Phật.

Đức Phật đó thọ mạng

Hai mươi bốn tiểu kiếp

Thường vì hàng trời người

Mà diễn nói đạo Phật

Chúng Thanh-văn vô lượng

Như số cát sông Hằng

Đủ ba minh, sáu thông

Đều có oai đức lớn.

Bồ-Tát đông vô số

Chí bền lòng tinh tấn

Ở nơi trí huệ Phật

Đều không hề thối chuyển.

Sau khi Phật diệt độ

Chánh pháp sẽ trụ đời

Đủ bốn mươi tiểu kiếp

Tượng pháp cũng như thế.

11.-Các đệ tử của ta

Bậc oai đức đầy đủ

Số đó năm trăm người

Ta đều sẽ thọ ký

Ở nơi đời vị lai

Đều được chứng thành Phật

Ta cùng với các ông

Đời trước kết nhân duyên

Ta nay sẽ thuật nói

Các ông khéo lóng nghe

 

62.Na-do-tha, nayuta. Còn gọi là Na-du-đa, Na-do-đa, Na-thuật, tên số đếm, tương đương với 1 ức. Một ức có ba cấp: 10 vạn, 100 vạn, 1000 vạn.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “HÓA THÀNH DỤ”63 THỨ BẢY

1.-Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo: “Thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì a-tăng-kỳ kiếp đã qua, lúc bấy giờ có đức Phật hiệu Đại-Thông Trí-Thắng Như -Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn.

Nước đó tên Hảo-Thành, kiếp tên Đại- Tướng. Các Tỳ-kheo! Từ khi đức Phật đó diệt độ nhẫn đến nay rất là lâu xa, thí như địa chủng trong cõi tam-thiên đại-thiên, giả sử có người đem mài làm mực rồi đi khỏi một nghìn cõi nước ở phương đông bèn chấm một điểm chừng bằng bụi nhỏ, lại qua một nghìn cõi nước nữa cũng chấm một điểm, cứ như thế lần lượt chấm hết mực mài bằng địa chủng ở trên. Ý các ông nghĩ sao? Các cõi nước đó hoặc thầy toán hoặc đệ tử của thầy toán có thể biết được ngằn mé số đó chăng?”

- Thưa Thế-Tôn! Không thể biết!

- Các Tỳ-kheo! Những cõi nước của người đi qua đó hoặc có chấm mực hoặc không chấm mực đều nghiền nát cả ra làm bụi, một hột bụi là một kiếp, từ đức Phật đó diệt độ đến nay lại lâu hơn số vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp. Ta dùng sức tri kiến của Như- Lai xem thuở lâu xa đó dường như hiện ngày nay.

Bấy giờ, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2.-Ta nhớ đời quá khứ

Vô lượng vô biên kiếp

Có Phật Lưỡng-Túc-Tôn

Hiệu Đại-Thông Trí-Thắng

Như người dùng sức mài

Cõi tam-thiên đại-thiên

Hết tất cả địa chủng

Thảy đều làm thành mực

Quá hơn nghìn cõi nước

Bèn chấm một điểm trần

Như thế lần lượt chấm

Hết các mực trần nầy.

Bao nhiêu cõi nước đó

Điểm cùng chẳng điểm thảy

Lại đều nghiền làm bụi

Một bụi làm một kiếp

Kiếp số lâu xa kia

Lại nhiều hơn số bụi

Phật đó diệt đến nay

Vô lượng kiếp như thế

Trí vô ngại của Phật

Biết Phật đó diệt độ

Và Thanh-văn Bồ-Tát

Như hiện nay thấy diệt.

Các Tỳ-kheo nên biết.

Trí Phật tịnh vi diệu

Vô lậu và vô ngại

Suốt thấu vô lượng kiếp.

3.-Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:“Đức Đại-Thông Trí-Thắng Phật thọ năm trăm bốn mươi vạn ức na-do-tha kiếp, đức Phật đó khi trước lúc ngồi đạo tràng phá quân ma rồi, sắp được đạo vô-thượng chánh- đẳng, chánh-giác mà Phật pháp chẳng hiện ra trước, như thế một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp, ngồi xếp bằng thân và tâm đều không động mà các Phật pháp còn chẳng hiện ra trước.

Thuở đó, các vị trời Đao-Lợi ở dưới gốc cây Bồ-đề đã trước vì đức Phật đó mà trải toà sư-tử cao một do tuần64, Phật ngồi nơi tòa nầy sẽ được đạo vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác. Khi Phật vừa ngồi trên tòa đó các trời Phạm-Thiên-Vương rưới những hoa trời khắp bốn mươi do tuần, gió thơm lâu lâu thổi đến, thổi dẹp hoa héo rồi rưới hoa mới mãi như thế không ngớt mãn mười tiểu kiếp để cúng dường đức Phật, nhẫn đến khi Phật diệt độ thường rưới hoa nầy. Các trời Tứ-thiên-vương vì cúng dường Phật nên thường đánh trống trời. Ngoài ra các vị trời khác trỗi kỹ nhạc trời, mãn mười tiểu kiếp đến khi Phật diệt độ cũng lại như thế. Các Tỳ-kheo! Đức Đại-Thông Trí- Thắng Phật quá mười tiểu kiếp các Phật pháp hiện ra trước thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.

Lúc Phật chưa xuất gia có mười sáu người con trai, người con cả tên Trí-Tích. Các người con đó đều có các món đồ chơi tốt đẹp báu lạ, nghe cha chứng được quả vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác đều bỏ đồ báu của mình đi đến chỗ Phật. Các người mẹ khóc lóc theo đưa”. Ông nội là vua Chuyển-luân-thánh- vương, cùng một trăm vị đại thần và trăm nghìn muôn ức nhân dân khác đều vây quanh nhau đi theo đến đạo tràng, mọi người đều đến gần gũi đức Đại-Thông Trí- Thắng Như-Lai để cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen. Khi đã đến nơi tất cả đem đầu mặt mình lạy chân Phật, đi vòng quanh đức Phật xong, đều chắp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, rồi nói kệ khen Phật:

4.-Thế-Tôn oai đức lớn

Vì muốn độ chúng sinh

Trong vô lượng ức năm

Bèn mới được thành Phật

Các nguyện đã đầy đủ

Hay thay lành vô thượng

Thế-Tôn rất ít có

Một phen ngồi mười kiếp

Thân thể và tay chân

Yên tịnh không hề động

Tâm Phật thường lặng lẽ

Chưa từng có tán loạn

Trọn rốt ráo vắng bặt

An trụ pháp vô lậu

Ngày nay thấy Thế-Tôn

An ổn thành Phật đạo

Chúng ta được lợi lành

Mừng rỡ rất vui đẹp.

Chúng sinh thường đau khổ

Đui mù không Đạo-Sư

Chẳng biết đạo dứt khổ

Chẳng biết cầu giải thoát

Lâu ngày thêm nẻo ác

Giảm tổn các chúng trời

Từ tối vào nơi tối

Trọn chẳng nghe danh Phật.

Nay Phật được vô thượng

Đạo an ổn vô lậu

Chúng ta và trời người

Vì được lợi lớn tột •    •        •

Cho nên đều cúi đầu

Quy mạng65 đấng vô thượng.

5.-Bấy giờ mười sáu vị vương tử nói kệ khen đức Phật rồi liền khuyến thỉnh đức Thế-Tôn chuyển pháp luân, đều thưa rằng:“Đức Thế-Tôn nói pháp được an ổn, thương xót làm lợi ích cho các trời và nhân dân”. Lại nói kệ rằng:

Đức Phật không ai bằng

Trăm phước tự trang nghiêm

Được trí huệ vô thượng

Nguyện vì đời nói pháp

Độ thoát cho chúng con

Và các loài chúng sinh

Xin phân biệt chỉ bày

Cho được trí huệ Phật

Nếu chúng con thành Phật

Chúng sinh cũng được thế

Thế-Tôn biết chúng sinh

Thâm tâm nghĩ tưởng gì

Cũng biết đạo chúng làm

Lại biết sức trí huệ •   •

Muốn ưa và tu phước

Nghiệp gây tạo đời trước

Thế-Tôn biết cả rồi

Nên chuyển pháp vô thượng.

6.-Phật bảo các Tỳ-kheo:“Lúc đức Đại- Thông Trí-Thắng Phật được quả vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác, trong mười phương, mỗi phương đều năm trăm muôn ức các cõi nước Phật sáu điệu vang động. Trong các cõi nước đó chỗ tối tăm ánh sáng của nhật nguyệt không soi tới được mà đều sáng rỡ, trong đó chúng sinh đều được thấy nhau, đồng nói rằng: ‘Trong đây tại sao bỗng sinh ra chúng sinh?’ Lại trong các cõi đó cung điện của chư Thiên cho đến Phạm-Cung sáu điệu vang động, hào quang lớn soi cùng khắp đầy cõi nước, sáng hơn ánh sáng của trời”.

7.-Bấy giờ, phương Đông, năm trăm muôn ức các cõi nước, cung điện của trời Phạm-Thiên66 ánh sáng soi chói gấp bội hơn ánh sáng thường ngày, các Phạm- Thiên-Vương đều tự nghĩ rằng: “Hôm nay cung điện sáng suốt từ xưa chưa từng có, vì nhân duyên gì mà hiện điềm tốt này?” Lúc đó các vị Phạm-Thiên-Vương liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Trong chúng có một vị Phạm-Thiên-Vương lớn tên Cứu-Nhứt-Thiết vì các Phạm-chúng mà nói kệ rằng:

Các cung điện chúng ta

Sáng suốt xưa chưa có

Đây là nhân duyên gì

Phải nên chung nhau tìm

Là trời Đại đức sinh

Hay là Phật ra đời

Mà ánh sáng lớn này

Khắp soi cả mười phương.

Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước, các vị Phạm-Thiên-Vương cùng chung với cung điện67 mỗi vị đều lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đi đến phương Tây suy tìm tướng sáng đó. Thấy đức Đại-Thông Trí-Thắng Như-Lai ngồi tòa sư-tử ở nơi đạo tràng dưới gốc Bồ-đề, hàng chư Thiên, Long-vương, Càn-thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhân và phi nhân v.v... cung kính vây quanh đức Phật, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân; tức thời các vị Phạm-Thiên- Vương đầu mặt lạy chân Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật.

Hoa của mấy ông rải nhóm như núi Diệu-Cao, cùng để cúng-dường cây Bồ-đề của Phật, cây Bồ-đề đó cao mười do-tuần.

Cúng dường hoa xong, mỗi vị đem cung điện dưng lên đức Phật mà thưa rằng: “Xin đức Phật đoái thương lợi ích cho chúng con, cung điện dâng cúng đây xin nhận ở”.

Lúc đó, các vị Phạm-Thiên-Vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng:

Thế-Tôn rất ít có

Khó thể gặp gỡ được

Đủ vô lượng công đức

Hay cứu hộ tất cả

Thầy lớn của trời người

Thương xót ở trong đời

Mười phương các chúng sinh

Khắp đều nhờ lợi ích.

Chúng con từng theo đến

Năm trăm muôn ức nước

Bỏ vui thiền định sâu

Vì để cúng dường Phật

Chúng con phước đời trước

Cung điện rất tốt đẹp

Nay đem dâng Thế-Tôn

Cúi xin, thương nạp thọ.

Bấy giờ, các vị Phạm-Thiên-Vương nói kệ khen đức Phật rồi đều thưa rằng: “Cúi xin đức Thế-Tôn chuyển-pháp-luân, độ thoát chúng sinh mở đường Niết-bàn”. Khi ấy, các vị Phạm-Thiên-Vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ rằng:

Thế-Hùng Lưỡng-Túc-Tôn

Cúi xin diễn nói pháp

Dùng sức từ bi lớn

Độ chúng sinh khổ não.

Lúc đó đức Đại-Thông Trí-Thắng Như-Lai lặng yên nhận lời đó68.

8.-Lại nữa các Tỳ-kheo! Phương đông nam năm trăm muôn ức cõi nước các vị Phạm-Thiên-Vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sinh lòng hy hữu, liền cùng đến nhau chung bàn việc đó. Lúc ấy trong chúng đó có một vị Phạm-Thiên- Vương tên là Đại-Bi, vì các Phạm-chúng mà nói kệ rằng:

Việc đó nhân duyên gì Mà hiện tướng như thế? Các cung điện chúng ta Sáng suốt xưa chưa có Là trời Đại-đức sinh Hay là Phật ra đời? Chưa từng thấy tướng nầy Nên chung một lòng cầu Quá nghìn muôn ức cõi Theo luồng sáng tìm đến Phần nhiều Phật ra đời Độ thoát khổ chúng sinh. Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm-Thiên-Vương cùng chung với cung điện, lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đến phương Tây-Bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Đại-ThôngTrí-Thắng Như-Lai ngồi tòa sư-tử nơi đạo tràng dưới gốc Bồ- đề, các hàng chư Thiên, Long- vương, Càn-thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhân cùng phi-nhân v.v..., cung kính vây quanh, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân. Khi ấy các vị Phạm-Thiên-Vương đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu-Cao, cùng để cúng dường cây Bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: “Xin Phật thương xót lợi ích cho chúng con, những cung điện dâng đây cúi xin nhận ở”.

Lúc đó, các vị Phạm-Thiên-Vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng:

Thánh Chúa vua trong trời

Tiếng Ca-lăng-tần-già

Thương xót hàng chúng sinh

Chúng con nay kính lễ.

Thế-Tôn rất ít có

Lâu xa một lần hiện

Một trăm tám mươi kiếp

Luống qua không có Phật

Ba đường dữ dẫy đầy

Các chúng trời giảm ít.

Nay Phật hiện ra đời

Làm mắt cho chúng sinh

Chỗ quy thú của đời

Cứu hộ cho tất cả

Là cha của chúng sinh

Thương xót làm lợi ích

Nhờ phúc lành đời trước

Nay được gặp Thế-Tôn.

Khi đó, các vị Phạm-Thiên-Vương nói kệ khen Phật xong đều thưa rằng: “Cúi xin đức Thế-Tôn thương xót tất cả chuyển-pháp-luân cho, để độ thoát chúng sinh.” Lúc ấy, các vị Phạm-Thiên-Vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ khen rằng:

Đại-Thánh chuyển-pháp-luân

Chỉ bày các pháp tướng

Độ chúng sinh đau khổ

Khiến được rất vui mừng

Chúng sinh nghe pháp này

Được đạo hoặc sinh thiên

Các đường dữ giảm ít

Bậc nhẫn thiện thêm nhiều.

Khi đó, đức Đại-Thông Trí-Thắng Phật yên lặng nhận lời.

9.-Lại nữa các Tỳ-kheo! năm trăm muôn ức cõi nước ở phương Nam các vị đại Phạm-vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa có, vui mừng hớn hở sinh lòng hy hữu liền đến cùng nhau chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng chói này ?

Trong chúng đó có một vị Phạm- Thiên-Vương lớn tên là Diệu-Pháp, vì hàng Phạm-chúng mà nói kệ rằng:

Các cung điện chúng ta

Quang minh rất oai diệu

Đây không phải không nhân

Tướng nầy phải tìm đó

Quá hơn trăm nghìn kiếp

Chưa từng thấy tướng nầy

Là trời Đại đức sinh

Hay đức Phật ra đời ?

Bấy giờ, năm trăm muôn ức Phạm-Thiên-Vương cùng cung điện chung, mỗi vị dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương Bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Đại-Thông Trí-Thắng Như-Lai ngồi tòa sư-tử nơi đạo tràng dưới gốc cây Bồ-đề, hàng chư Thiên, Long-vương, Càn-thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhân cùng phi-nhân v.v..., cung kính vây quanh, cùng thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển-pháp-luân. Khi đó, các vị Phạm-Thiên-Vương đầu mặt lễ Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu-Cao và để cúng dường cây Bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: “Xin đức Phật đoái thương lợi ích chúng con, cung điện của chúng con dâng đây cúi xin nạp xử". Bấy giờ, các vị đại Phạm-Thiên-Vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng: Thế-Tôn rất khó thấy Bậc phá các phiền não Hơn trăm ba mươi kiếp Nay mới thấy một lần Hàng chúng sinh đói khát Nhờ mưa pháp đầy đủ Xưa chỗ chưa từng thấy

Đấng vô lượng trí huệ

Như hoa Ưu-đàm-bát 

Ngày nay mới gặp gỡ

Cung điện của chúng con

Nhờ hào quang được đẹp

Thế-Tôn đại từ mẫn

Cúi xin thương nhận ở.

Khi đó, các vị Phạm-Thiên-Vương nói kệ khen đức Phật rồi đều bạch rằng: “Cúi mong đức Thế-Tôn chuyển-pháp-luân làm cho tất cả thế gian các hàng Trời, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn đều được an ổn mà được độ thoát”. Lúc ấy các vị Phạm-Thiên-Vương một lòng đồng tiếng nói kệ rằng:

Cúi mong Thiên-Nhân-Tôn

Chuyển-pháp-luân vô thượng

Đánh vang pháp cổ lớn

Mà thổi pháp loa lớn

Độ vô lượng chúng sinh

Chúng con đều quy thỉnh

Nên nói tiếng sâu xa.

Khi đó, đức Đại-Thông Trí-Thắng lặng yên nhận lời đó.

10.-Phương Tây Nam nhẫn đến phương dưới cũng lại như thế.

Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước ở thượng phương, các vị đại Phạm-Thiên- Vương thảy đều tự thấy cung điện của mình ở ánh sáng chói rực từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sinh lòng hy hữu, liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Vì nhân duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng nầy? Lúc đó trong chúng có một vị đại Phạm-Thiên-Vương tên là

Thi-Khí vì hàng Phạm-chúng mà nói kệ rằng:

Nay vì nhân duyên gì?

Cung điện của chúng ta

Ánh sáng oai đức chói

Đẹp đẽ chưa từng có?

Tướng tốt như thế đó

Xưa chưa từng nghe thấy

Là trời Đại-đức sinh

Hay là Phật ra đời?

Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm-Thiên-Vương cùng cung điện chung, mỗi vị đều dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương dưới suy tìm tướng sáng đó. Thấy đức Đại-Thông-Trí Thắng Như- Lai ngồi tòa sư-tử nơi đạo tràng dưới gốc Bồ-đề, hàng chư Thiên, Long-vương, Càn- thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhân cùng phi-nhân v.v... cung kính vây quanh và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh đức Phật chuyển-pháp-luân. Lúc đó, các vị Phạm-Thiên-Vương đầu mặt lạy Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời rải lên đức Phật. Hoa rải nhóm như núi Diệu-Cao và để cúng dường cây Bồ-đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà bạch rằng: “Xin đoái thương lợi ích chúng con. Cung điện dâng đây cúi mong Phật nạp ở”.

Lúc đó, các vị Phạm-Thiên-Vương liền ở trước Phật một lòng đồng thanh dùng kệ khen rằng:

Hay thay! thấy các Phật

Đấng Thánh-Tôn cứu thế

Hay ở ngục tam giới

Cứu khỏi các chúng sinh

Thiên-Nhân-Tôn trí khắp

Thương xót loài quần manh

Hay khai môn cam lộ

Rộng độ cho tất cả.

Lúc xưa vô lượng kiếp

Luống qua không có Phật

Khi Phật chưa ra đời

Mười phương thường mờ tối

Ba đường dữ thêm đông

A-tu-la cũng thịnh

Các chúng trời càng bớt

Chết nhiều đọa ác đạo

Chẳng theo Phật nghe pháp

Thường làm việc chẳng lành

Sắc, lực, cùng trí huệ

Các việc đều giảm ít

Vì tội nghiệp nhân duyên

Mất vui cùng tưởng vui

Trụ trong pháp tà kiến

Chẳng biết nghi tắc lành

Chẳng nhờ Phật hóa độ

Thường đọa trong ác đạo.

Phật là mắt của đời

Lâu xa mới hiện ra

Vì thương các chúng sinh

Nên hiện ở trong đời

Siêu việt thành chánh-giác

Chúng con rất mừng vui

Và tất cả chúng khác

Mừng khen chưa từng có

Cung điện của chúng con

Nhờ hào quang nên đẹp

Nay đem dâng Thế-Tôn

Cúi mong thương nhận ở

Nguyện đem công đức này

Khắp đến cho tất cả

Chúng con cùng chúng sinh

Đều đồng thành Phật đạo.

Khi đó, năm trăm muôn ức các vị Phạm-Thiên-Vương nói kệ khen đức Phật rồi, đều bạch Phật rằng: “Cúi mong đức Thế-Tôn chuyển-pháp-luân, nhiều chỗ an ổn, nhiều chỗ độ thoát”. Lúc ấy các vị Phạm-thiên-vương đồng nói kệ rằng: Thế-Tôn chuyển-pháp-luân Đánh trống pháp cam lộ Độ chúng sinh khổ não Mở bày đường Niết-bàn Cúi mong nhận lời con Dùng tiếng vi diệu lớn Thương xót mà nói bày Pháp tu vô lượng kiếp.

11.-Lúc bấy giờ, Đại-Thông Trí-Thắng Như-Lai nhận lời thỉnh của các Phạm-thiên-vương và mười sáu vị vương-tử tức thời ba phen chuyển-pháp-luân mười hai hành69 hoặc là Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc là Trời, Ma, Phạm và các thế gian khác đều không thể chuyển được, nói: Đây là khổ,đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ. Và rộng nói pháp mười hai nhân duyên: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão, tử, ưu bi, khổ não.

Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt

thì hữu diệt, hữu diệt thì sinh diệt, sinh diệt thì lão, tử, ưu bi, khổ não diệt. Đức Phật ở trong đại chúng trời, người khi nói pháp đó có sáu trăm muôn ức na- do-tha người do vì không thọ tất cả pháp mà ở các lậu tâm được giải thoát, đều được thiền định sâu mầu, ba món minh, sáu món thông, đủ tám giải thoát. Lúc nói pháp lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, có nghìn muôn ức hằng-hà- sa na-do-tha chúng sinh cũng bởi không thọ tất cả pháp mà nơi các lậu tâm được giải thoát. Từ đây nhẫn sau các chúng Thanh- văn nhiều vô lượng vô biên, không thể tính kể được.

12.-Bấy giờ mười sáu vị vương-tử đều là đồng tử mà xuất gia làm Sa-di, các căn thông lanh, trí huệ sáng láng, đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức các đức Phật, tịnh tu hạnh thanh tịnh, cầu đạo vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác, đều bạch cùng Phật rằng: “Thưa Thế-Tôn! Các vị Đại-đức Thanh-văn vô lượng nghìn muôn ức đây đã thành tựu xong, đức Thế-Tôn cũng nên vì chúng con nói pháp vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, chúng con nghe xong đều đồng tu học. Thế-Tôn! Chúng con có chí mong được tri kiến của Như Lai chỗ nghĩ tưởng trong thâm tâm, đức Phật tự chứng biết cho. Lúc đó, tám muôn ức người trong chúng của Chuyển-luân-thánh-vương dắt đến thấy mười sáu vị vương-tử xuất gia, cũng tự cầu xuất gia, vua liền thuận cho. Bấy giờ, đức Phật nhận lời thỉnh của Sa-di, qua hai muôn kiếp sau mới ở trong hàng bốn chúng nói kinh Đại-thừa tên là: “Diệu-Pháp Liên Hoa” là pháp giáo hoá Bồ-Tát được Chư Phật hộ niệm. Đức Phật nói kinh đó xong, mười sáu vị Sa-di vì đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, đều đồng thọ trì đọc tụng thông thuộc. Lúc nói kinh đó, mười sáu vị Sa-di Bồ-Tát thảy đều tin thọ, trong chúng Thanh-văn cũng có người tin hiểu. Ngoài ra nghìn muôn ức loại chúng sinh đều sinh lòng nghi lầm. Phật nói kinh đó suốt tám nghìn kiếp chưa từng thôi bỏ. Phật nói kinh đó xong liền vào tịnh thất trụ trong thiền định tám muôn bốn nghìn kiếp.

13.-Bấy giờ, mười sáu vị Bồ-Tát Sa-di biết Phật nhập thất trụ trong thiền định vắng bặt, mỗi vị đều lên pháp tòa cũng trong tám muôn bốn nghìn kiếp vì bốn bộ chúng rộng nói phân biệt kinh Diệu-Pháp Liên Hoa. Mỗi vị đều độ sáu trăm muôn ức na- do-tha hằng hà-sa chúng sinh, chỉ dạy cho được lợi mừng, khiến phát tâm vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.

14.-Đức Đại-Thông Trí-Thắng Phật qua tám muôn bốn nghìn kiếp sau từ tam- muội dậy, qua đến pháp tòa mà ngồi an lành, khắp bảo trong hàng đại chúng: “Mười sáu vị Bồ-Tát Sa-di này rất là ít có, các căn thông lẹ, trí huệ sáng láng, đã từng cúng dường vô lượng nghìn muôn ức số đức Phật, ở chỗ các đức Phật thường tu hạnh thanh tịnh, thọ trì trí của Phật để chỉ dạy chúng sinh làm cho vào trong đó. Các ông phải luôn luôn gần gũi mà cúng dường các vị ấy. Vì sao? Nếu hàng Thanh-văn, Duyên- giác cùng các Bồ-Tát có thể tin kinh pháp của mười sáu vị Bồ-Tát Sa-di đó nói mà thọ trì không mất, thì người đó sẽ được đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác trí huệ của Như-Lai”.

15.-Phật bảo các Tỳ-kheo: “Mười sáu vị Bồ-Tát đó thường ưa nói kinh Diệu- Pháp Liên-Hoa nầy. Sáu trăm muôn ức na-do-tha hằng-hà-sa chúng sinh của mỗi vị Bồ-Tát hóa độ đó đời đời sinh ra đều cùng Bồ-Tát ở chung, theo nghe pháp với Bồ-Tát thảy đều tin hiểu. Nhờ nhân duyên đó mà được gặp bốn muôn ức các đức Phật Thế-Tôn đến nay vẫn chẳng ngớt.

Các Tỳ-kheo! Ta nói với các ông mười sáu vị Sa-di đệ tử của đức Phật kia nay đều chứng được đạo vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác, hiện đang nói pháp trong cõi nước ở mười phương có vô lượng trăm nghìn muôn ức Bồ-Tát Thanh- văn để làm quyến thuộc.

Hai vị Sa-di làm Phật ở phương Đông: Vị thứ nhất tên là A-Súc ở nước Hoa-Hỷ, vị thứ hai tên là Tu-Di-Đỉnh.

Hai vị làm Phật ở phương Đông-Nam: Vị thứ nhứt tên là Sư-Tử-Âm, vị thứ hai tên là Sư-Tử-Tướng.

Hai vị làm Phật ở phương Nam: Vị thứ nhứt tên là Hư-Không-Trụ, vị thứ hai tên làThường-Diệt.

Hai vị làm Phật ở phương Tây-Nam: Vị thứ nhứt tên là Đế-Tướng, vị thứ hai tên là Phạm-Tướng.

Hai vị làm Phật ở phương Tây: Vị thứ nhứt tên là A-Di-Đà, vị thứ hai tên là Độ- Nhứt-Thiết Thế-Gian Khổ-Não.

Hai vị làm Phật ở phương Tây-Bắc: Vị thứ nhứt tên là Đa-Ma-La-Bạt Chiên-Đàn- Hương Thần Thông, vị thứ hai tên là Tu- Di-Tướng.

Hai vị làm Phật ở phương Bắc: Vị thứ nhứt tên là Vân-Tự-Tại, vị thứ hai tên là Vân-Tự-Tại-Vương.

Một vị làm Phật ở phương Đông-Bắc hiệu Hoại-Nhứt-Thiết Thế-Gian Bố-Úy.

Vị thứ mười sáu, chính ta là Thích-Ca Mâu-Ni Phật ở cõi nước Ta-bà thành vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác.

Các Tỳ-kheo! Lúc chúng ta làm Sa-di mỗi người giáo hóa vô lượng trăm nghìn muôn ức hằng-hà-sa chúng sinh vì đạo vô- thượng chánh-đẳng, chánh-giác theo ta nghe pháp. Những chúng sinh đó đến nay có người trụ bậc Thanh-văn, ta thường giáo hóa pháp vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Những bọn người này đáng dùng pháp đó mà lần vào Phật đạo.

Vì sao? Vì trí huệ của Như-Lai khó tin khó hiểu, vô lượng hằng-hà-sa chúng sinh bị hóa độ trong thuở đó chính là bọn ông, các Tỳ-kheo, và sau khi ta diệt độ các vị đệ tử Thanh-văn trong đời vị lai. Sau khi ta diệt độ, lại có đệ tử không nghe kinh này không biết không hay hạnh của Bồ-Tát, tự ở nơi công đức của mình được tưởng cho là diệt độ sẽ nhập Niết-bàn.

Ta ở nơi nước khác làm Phật lại có tên khác. Người đó dầu sinh lòng tưởng là diệt độ nhập Niết-bàn, nhưng ở nơi cõi kia cầu trí huệ của Phật, được nghe kinh này, chỉ do Phật thừa mà được diệt độ lại không có thừa nào khác, trừ các đức Như- Lai phương tiện nói pháp. Các Tỳ-kheo! Nếu đức Như-Lai tự biết giờ Niết-bàn sắp đến, chúng lại thanh tịnh lòng tin hiểu bền chắc, rõ thấu pháp

không, sâu vào thiền định, bèn nhóm các Bồ-Tát và chúng Thanh-văn mà vì nói kinh nầy. Trong đời không có hai thừa mà được diệt độ, chỉ có một Phật thừa được diệt độ thôi.

Các Tỳ-kheo nên rõ! Đức Như-Lai phương tiện sâu vào tánh chúng sinh, biết chí nó ưa pháp nhỏ, rất ham nơi năm món dục, vì hạng người này mà nói Niết-bàn, người đó nếu nghe thời liền tin nhận.

16.-Thí dụ đường hiểm nhiều nạn dữ, dài năm trăm do tuần. Chốn ghê sợ hoang vắng không người. Nếu chúng đông muốn đi qua con đường nầy đến chỗ trân bảo, có một vị Đạo-Sư thông minh sáng suốt khéo biết rõ tướng thông bít của con đường hiểm, dắt chúng nhân muốn vượt qua nạn đó. Chúng nhân được dắt đi giữa đường lười mỏi bạch Đạo Sư rằng: “Chúng con mệt nhọc lại thêm sợ sệt chẳng có thể đi nữa, đường trước còn xa nay muốn lui về”. Vị Đạo-Sư nhiều sức phương tiện mà tự nghĩ rằng: Bọn này đáng thương, làm sao cam bỏ trân bảo lớn mà muốn lui về. Nghĩ thế rồi dùng sức phương tiện ở giữa đường hiểm quá ba trăm do tuần, hóa làm một cái thành mà bảo chúng nhân rằng: “Các người chớ sợ, đừng lui về, nay thành lớn nầy có thể dừng ở trong đó tùy ý muốn làm gì thì làm, nếu vào thành nầy sẽ rất được an ổn, nếu có thể lại thẳng đến chỗ châu báu đi cũng được”. Bấy giờ, chúng mỏi mệt rất vui mừng khen chưa từng có, chúng ta hôm nay khỏi được đường dữ rất được an ổn. Đó rồi chúng nhân thẳng vào hóa thành sinh lòng tưởng cho rằng đã được độ rất an ổn. Lúc ấy Đạo-Sư biết chúng nhân đó đã được nghỉ ngơi không còn mỏi mệt, liền diệt hóa thành bảo chúng nhân rằng: “Các người nên đi tới, chỗ châu báu ở gần đây, thành lớn trước đó là của ta biến hóa ra để nghỉ ngơi thôi”. Các Tỳ-kheo! Đức Như-Lai cũng lại như thế, nay vì các ông mà làm vị đại Đạo- Sư, biết các đường dữ sinh tử phiền não hiểm nạn dài xa nên bỏ nên vượt qua. Nếu như chúng sinh chỉ nghe một Phật thừa thời chẳng muốn thấy Phật, chẳng muốn gần gũi, mà nghĩ thế nầy: “Đạo Phật dài xa lâu ngày chịu cần khổ mới có thể được thành”. Phật biết tâm chúng đó khiếp nhược hạ liệt, phải dùng sức phương tiện mà ở giữa đường vì để ngơi nghỉ nên nói hai món Niết-bàn70. Nếu chúng sinh trụ nơi hai bực, đức Như-Lai bấy giờ liền bèn vì nói: “Chỗ tu của các ông chưa xong, bậc của các ông ở gần với huệ của Phật. Phải quan sát suy lường Niết-bàn đã được đó chẳng phải chân thật vậy. Chỉ là sức phương tiện của Như-Lai, ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. Như vị Đạo-Sư kia vì cho mọi người ngơi nghỉ mà hóa làm thành lớn, đã biết nghĩ xong mà bảo đó rằng:

“Chỗ châu báu ở gần, thành nầy không phải thật, của ta biến hóa làm ra đó thôi”. Lúc đó đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

17.- Đại-Thông Trí-Thắng Phật

Mười kiếp ngồi đạo tràng Phật

Pháp chẳng hiện tiền

Chẳng được thành Phật đạo

Các trời, thần, Long-vương

Chúng A-tu-la thảy

Thường rưới các hoa trời

Để cúng dường Phật đó

Chư thiên đánh trống trời

Và trổi các kỹ nhạc

Gió thơm thổi hoa héo

Lại mưa hoa tốt mới

Quá mười tiểu kiếp rồi

Mới được thành Phật đạo

Các trời cùng người đời

Lòng đều sinh hớn hở. 

Mười sáu người con Phật

Đều cùng quyến thuộc mình

Nghìn muôn ức vây quanh 

Chung đi đến chỗ Phật

Đầu mặt lạy chân Phật

Thỉnh Phật chuyển-pháp-luân

“Đấng Thánh-Sư mưa pháp

Lợi con và tất cả

Thế-Tôn rất khó gặp

Lâu xa một lần hiện

Vì giác ngộ quần sinh

Mà chấn động tất cả”.

Các thế giới phương Đông

Năm trăm muôn ức cõi

Phạm cung điện sáng chói

Từ xưa chưa từng có

Phạm-vương thấy tướng này

Liền đến chỗ Phật ở

Rải hoa để cúng dường

Và dâng cung điện lên

Thỉnh Phật chuyển-pháp-luân

Nói kệ khen ngợi Phật

Phật biết chưa đến giờ

Nhận thỉnh yên lặng ngồi

Ba phương cùng bốn phía

Trên, dưới cũng như thế

Rưới hoa dâng cung điện

Thỉnh Phật chuyển-pháp-luân

“Thế-Tôn rất khó gặp

Nguyện vì bổn từ bi

Rộng mở cửa cam-lộ

Chuyển-pháp-luân vô-thượng.”

18.- Thế-Tôn huệ vô thượng

Nhân chúng nhân kia thỉnh

Vì nói các món pháp

Bốn đế, mười hai duyên

Vô minh đến lão tử

Đều từ sinh duyên hữu

Những quá hoạn như thế

Các ông phải nên biết

Tuyên nói pháp đó rồi

Sáu trăm muôn ức cai71

Được hết các ngằn khổ

Đều thành A-la-hán. 

Thời nói pháp thứ hai

Ngàn vạn hằng sa chúng

Ở các pháp chẳng thọ

Cũng được A-la-hán,

Từ sau đây được đạo

Số đông đến vô lượng 

Muôn ức kiếp tính kể

Không thể được ngằn mé.

19.-Bấy giờ mười sáu vị

Xuất gia làm Sa-di

Đều đồng thỉnh Phật kia

Diễn nói pháp Đại thừa:

“Chúng con cùng quyến thuộc

Đều sẽ thành Phật đạo

Nguyện được như Thế-Tôn

Tuệ nhãn sạch thứ nhứt”.

Phật biết lòng đồng tử

Chỗ làm của đời trước

Dùng vô lượng nhân duyên

Cùng các món thí dụ

Nói sáu Ba-la-mật

Và các việc thần thông,

Phân biệt pháp chân thật

Đạo của Bồ-Tát làm

Nói kinh Pháp-Hoa nầy

Kệ nhiều như hằng sa.

Phật kia nói kinh rồi

Vào tịnh thất nhập định

Tám vạn bốn ngàn kiếp

Một lòng ngồi một chỗ.

Các vị Sa-di đó

Biết Phật chưa xuất thiền

Vì vô lượng chúng nói

Huệ vô thượng của Phật

Mỗi vị ngồi pháp tòa

Nói kinh Đại-thừa này

Sau khi Phật yên lặng

Tuyên bày giúp giáo hóa.

Mỗi vị Sa-di thảy

Số chúng sinh mình độ

Có sáu trăm muôn ức

Hằng-hà-sa các chúng.

Sau khi Phật diệt độ

Các người nghe pháp đó

Ở các nơi cõi Phật

Thường cùng thầy sinh chung.

Mười sáu Sa-di đó

Đầy đủ tu Phật đạo

Nay hiện ở mười phương

Đều được thành Chánh-giác

Người nghe pháp thuở đó

Đều ở chỗ các Phật

Có người trụ Thanh-văn

Lần dạy cho Phật đạo.

Ta ở số mười sáu

Từng vì các người nói

Cho nên dùng phương tiện

Dẫn dắt đến huệ Phật

Do bản nhân duyên đó

Nay nói kinh Pháp Hoa

Khiến ngươi vào Phật đạo

Dè dặt chớ kinh sợ.

20.-Thí như đường hiểm dữ

Xa vắng nhiều thú độc

Và lại không cỏ nước

Chốn mọi người ghê sợ

Vô số nghìn muôn chúng

Muốn qua đường hiểm này

Đường đó rất xa vời

Trải năm trăm do tuần.

Bấy giờ một Đạo-Sư

Nhớ dai có trí huệ

Sáng suốt lòng quyết định

Đường hiểm cứu các nạn

Mọi người đều mệt mỏi

Mà bạch Đạo-Sư rằng:

“Chúng con nay mỏi mệt

Nơi đây muốn trở về”.

Đạo-Sư nghĩ thế này:

Bọn này rất đáng thương

Làm sao muốn lui về

Cam mất trân bảo lớn?

Liền lại nghĩ phương tiện

Nên bày sức thần thông

Hóa làm thành quách lớn

Các nhà cửa trang nghiêm

Bốn bề có vườn rừng

Sông ngòi và ao tắm

Cửa lớn lầu gác cao

Trai, gái đều đông vầy.

Hóa ra thành đó rồi

An ủi chúng: “Chớ sợ Các ngươi vào thành này

Đều được vừa chỗ muốn”.

Mọi người đã vào thành

Lòng đều rất vui mừng

Đều sinh tưởng an ổn

Tự nói đã được độ.

Đạo-Sư biết nghỉ xong

Nhóm chúng mà bảo rằng:

“Các ngươi nên đi nữa

Đây là hóa thành thôi

Thấy các ngươi mỏi mệt

Giữa đường muốn lui về

Nên dùng sức phương tiện

Ta hóa làm thành này

Các ngươi gắng tinh tấn

Nên đồng đến chỗ báu.

21.-Ta cũng lại như vậy

Đạo-Sư của tất cả

Thấy những người cầu đạo

Giữa đường mà lười bỏ

Không thể vượt đường dữ

Sinh tử đầy phiền não

Nên dùng sức phương tiện

Vì nghỉ nói Niết-bàn.

Rằng các ngươi khổ diệt

Chỗ làm đều đã xong

Đã biết đến Niết-bàn

Đều chứng A-la-hán

Giờ mới nhóm đại chúng

Vì nói pháp chân thật

Sức phương tiện các Phật

Phân biệt nói ba thừa

Chỉ có một Phật thừa

Vì nghỉ nên nói hai72

Vì các ngươi nói thật

Các ngươi chưa phải diệt,

Vì nhứt-thiết-trí Phật

Nên phát tinh tấn mạnh

Ngươi chứng nhứt-thiết-trí

Mười lực các Phật Pháp

Đủ băm hai tướng tốt

Mới là chân thật diệt,

Các Phật là Đạo-Sư

Vì nghỉ nói Niết-bàn

Đã biết ngơi nghỉ rồi

Dẫn vào nơi huệ Phật.

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Quyển thứ ba

Một tiếng kín bày, thần thông giáo hóa thầm gia hộ, khắp rưới mưa pháp nhuần các mầm, quả báo nhà rộng lớn, chốn châu báu không xa, quyền biến hóa đồng hoa đốm hư không.

Nam-Mô Pháp-Hoa Hội-Thượng-Phật Bồ-Tát (3 lần)

Ba căn khắp nhuần, đệ tử nhờ ơn, thành biến hóa dối bày chớ cho là chân, lại xem nhân duyên đức Trí-Thắng, mười sáu vị Vương-Tôn tám phương chứng thân vàng.

Nam-Mô Đại-Thông Trí-Thắng Phật (3 lần)

Sự tích Đọc kinh thoát khổ

(trích trong Pháp-uyển)

Đời Đường, ở Ung-Châu, huyện Trường-An có ông Cao- Pháp-Nhãn là cháu huyền tôn của ông Cao-Tần, quan bộc xạ đời Tuỳ. Đến niên hiệu Long-Sóc năm thứ ba, ngày 25 tháng giêng đến Trung-Đài dự thí, trưa cỡi ngựa về nhà. Nhà ông ở góc phía Nam phường Nghĩa-Ninh, phía Đông chùa Hóa-Độ. Giữa đường gặp bọn người cỡi ngựa rượt bắt, chạy về gần đến nhà té ngựa mê ngất rồi chết, mọi người tri hô, người nhà vội đến khiêng về đến sáng ngày mai mới sống lại. Ông Nhãn bảo người nhà rằng: “Ta bị quỷ bắt đến địa-ngục thấy vua Diêm-La ngồi trên toà cao, giận mắng ta rằng: Ngươi tại sao lại đến chùa Hóa-Độ trong phòng thầy Minh-Tạng ăn trái của thường-trụ Tăng? - Nói xong bắt ta nuốt 400 hòn sắt nóng, đương lúc nuốt thời cổ họng nghẹn rút thân thể đỏ khô co lại biến làm màu đỏ, nuốt hết mới sống lại”.

Ngày 26 là ngày ông mới sống lại, lại có bọn quỷ hiện đến bắt dẫn về cho vua Diêm-Vương. Vua quở: “Tại sao ngươi không kính tin Tam-Bảo dám nói chuyện lỗi xấu của Tăng? Ngươi nuốt sắt xong sẽ bị cày lưỡi.” Đến ngày 29 tháng đó sau khi nuốt sắt xong sống lại cho đến ngày 30 sáng sớm lại chết đến địa ngục chịu cày sắt cày lưỡi tự thấy lưỡi mình dài đến vài dậm, người ở bên xem thấy ông Nhãn le lưỡi ra hơn thước ( thước Tàu). Vua lại bảo ngục tốt: “Người này nói chuyện hay dở của Tam-Bảo đem búa lớn ra chặt bỏ lưỡi

đó”. Ngục tốt chặt mãi không đứt. Vua bảo lấy búa thẻo nhỏ bỏ vào vạc nước sôi nấu, nấu mãi không rã. Vua lấy làm lạ hỏi, ông Nhãn thưa: “Tôi từng đọc kinh Pháp-Hoa một lượt”. Vua không tin tra sổ công đức, thấy trong án có ghi.“Đọc một bộ kinh Pháp-Hoa.” Vua liền truyền thả cho về.

Ông Nhãn hiện còn, người đến thăm xem như đi chợ, người nghe thấy phát tâm tu hành rất đông. Cả nhà ông Nhãn từ đó rất mực kính tin Tam-Bảo, gắng chí tinh tấn tu hành, hằng răn nhắc nhau không hề nhàm mỏi.

Tam-Bảo là con thuyền từ báu đưa chúng sinh ra khỏi biển sinh tử khổ. Kính thì phước vô lượng. Khinh thì họa không nhỏ. Phật là đấng Chí-Tôn, Pháp là Thánh dược, Tăng là biểu hiệu của Phật và Pháp. Ông Nhãn khinh Tăng mà phải tội, lại nhờ đọc kinh Pháp-Hoa mà khỏi tai ương. Chỉ đọc có một bộ kinh Pháp-Hoa mà lưỡi không chặt đứt, nấu không rã, làm đến nỗi vua Diêm-Vương phải kinh sợ mà mau đưa về. Huống là người đọc tụng 2 bộ, 3 bộ đến trăm nghìn bộ ư. Nếu người nào chí thành tụng niệm kinh Pháp-Hoa thời công đức vô lượng vô biên -Tội nghiệp đều tiêu -Phúc lành đầy đủ. Sau khi xả báo thân hiện tại, quyết chắc sẽ cảm thành thân vàng Kim-cang ở vị lai vậy.

 

Thích Nghĩa

  1. 63. Thành trì do thần thông biến hóa ra, để dụ huyền giáo hóa của Phật.
  2. 64. Có 3 hạng do tuần: 1) 40 dậm Tàu, 2) 60 dậm, 3) 80 dậm.
  3. 65. Đem thân mạng về nương, nghĩa là chữ “Nam-mô” tiếng Phạm.
  4. 66. Cõi dục trên người có 6 cõi trời:
  1. 1..- Trời Tứ-Thiên-Vương;
  2. 2..- Trời Đao-Lợi ( vua là Đế-Thích hay Thích-Đề-Hoàn-Nhân)
  3. 3..- Trời Dạ-Ma;
  4. 4..- Trời Đâu-Xuất;
  5. 5..- Trời Hóa-Lạc;
  6. 6..- Trời Tha-Hóa-Tự-Tại, trên cõi dục có cõi Sắc, cõi Sắc có bốn thiền (sơ-thiền, nhị-thiền, tam-thiền, tứ-thiền), 18 cõi Trời.

Trong Sơ-thiền có 3 cõi:

  1. 1..- Trời Phạm-chúng
  2. 2..- Phạm-Vương. Phạm-Thiên-Vương là vua Trời Sơ-thiền.
  3. 3..- Đại-Phạm Thiên-Vương là vua Trời Tứ-thiền.
  1. 67. Có phúc lành lớn nên cảm báo có cung điện tuỳ thân nhỏ lớn như ý.
  2. 68. Theo nghi biểu của Phật, ai thưa thỉnh việc chi nếu nín thinh là đã chịu.
  3. 69. Ba lần TỨ-ĐẾ thành 12.
  1. 1..- Đây là khổ, đây là Tập, đây là Diệt, đây là Đạo.
  2. 2..- Khổ nên biết, Tập nên dứt, Diệt nên chứng, Đạo nên tu.
  3. 3..- Khổ biết rồi, Tập dứt rồi, Diệt chứng rồi, Đạo tu rồi
  1. 70. Hai món Niết/bàn: 1.- Thanh-văn Niết-bàn. 2.- Duyên-giác Niết-bàn.
  2. 71. Một trăm triệu (100.000.000) gọi là “cai”.
  3. 72. Thanh-văn-thừa, Duyên-giác-thừa.

- Các danh từ: Vô-lượng, vô-biên, a-tăng-kỳ, vô-số, na-do-tha, hằng-hà-sa, bất-khả tư-nghì, bất-khả-xưng, bất-khả-thuyết, v.v... đều là những số lớn trên số muôn ức.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Quyển thứ tư

Đời Diêu-Tần, Ngài Tam-Tạng Pháp-Sư Cưu-Ma-La-Thập phụng chiếu dịch.

PHẨM “NGŨ-BÁ ĐỆ-TỬ THỌ KÝ” THỨ TÁM

1.-Lúc bấy giờ, ngài Mãn-Từ-Tử từ nơi đức Phật nghe trí huệ phương tiện tùy cơ nghi nói pháp như thế, lại nghe thọ ký cho các vị đệ tử lớn sẽ thành vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác, lại nghe việc nhân duyên đời trước, lại nghe các đức Phật có sức tự tại thần thông lớn, được điều chưa từng có, lòng thanh tịnh hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, đầu mặt lễ chân Phật rồi đứng qua một bên chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt không tạm rời, mà nghĩ thế này: “Thế-Tôn rất riêng lạ, việc làm ít có, thuận theo bao nhiêu chủng tánh ở trong đời, dùng sức phương tiện tri kiến mà vì đó nói pháp, vớt chúng sinh ra khỏi các chỗ tham trước, chúng con ở nơi công đức của Phật không thể dùng lời nói mà tuyên bày được, chỉ có đức Thế-Tôn hay biết bổn nguyện trong thâm tâm của chúng con.”

2.-Bấy giờ Phật bảo các Tỳ-kheo: “Các ông thấy Mãn-Từ-Tử đây chăng? Ta thường khen ông là bậc nhất trong hàng người nói pháp, cũng thường khen các món công đức của ông, ròng rặc siêng năng hộ trì giúp tuyên bày pháp của ta, có thể chỉ dạy lợi mừng cho hàng bốn chúng73 giải thích trọn vẹn chánh pháp của Phật, mà làm nhiều lợi ích cho những người cùng đồng hạnh thanh tịnh. Ngoài đức Như-Lai, không ai có thể cùng tận chỗ biện bác ngôn luận của ông. Các ông chớ tưởng Mãn-Từ-Tử chỉ hay hộ trì trợ tuyên pháp của ta thôi, ông cũng đã ở nơi chín mươi ức đức Phật thuở quá khứ mà hộ trì trợ tuyên chánh pháp của Phật, ở trong nhóm người nói pháp thuở đó cũng là bậc nhất. Ông lại ở pháp không của Chư Phật nói, thông suốt rành rẽ, được bốn món trí vô ngại, thường hay suy gẫm chắc chắn nói pháp thanh tịnh không có nghi lầm đầy đủ sức thần thông của Bồ-Tát tùy số thọ mạng mà thường tu hạnh thanh tịnh. Người đời thuở đức Phật kia đều gọi ông thật là Thanh-văn. Nhưng ông Mãn- Từ-Tử dùng phương tiện đó làm lợi ích cho vô lượng trăm nghìn chúng sinh, lại giáo hóa vô lượng vô số người khiến đứng nơi vô-thượng chánh-đẳng, chánh-giác. Ông vì muốn tịnh cõi Phật mà thường làm Phật sự giáo hóa chúng sinh. Các Tỳ-kheo! Ông Mãn-Từ-Tử cũng được bậc nhất ở trong hàng người nói pháp thuở bảy đức Phật, nay ở chỗ ta trong hàng người nói pháp cũng là bậc nhất. Trong hàng người nói Pháp thuở các đức Phật trong Hiền kiếp về đương lai cũng lại là bậc nhất, mà đều hộ trì giúp tuyên bày pháp của Phật. Ông cũng sẽ ở trong đời vị lai hộ trì trợ tuyên chánh pháp của vô lượng vô biên các đức Phật, giáo hóa làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh khiến an lập nơi đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, vì tịnh cõi Phật mà thường siêng năng tinh tấn giáo hóa chúng sinh, lần lần đầy đủ đạo Bồ-Tát.

Qua vô lượng vô số kiếp sau, ông sẽ ở nơi cõi này thành vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, hiệu là: Pháp-Minh Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật-Thế-Tôn. Đức Phật đó lấy số thế giới tam-thiên đại-thiên nhiều như số cát sông Hằng mà làm thành một cõi Phật. Đất bằng bảy thứ báu, thẳng bằng như bàn tay không có núi gò, khe suối, rạch ngòi. Nhà, đài bằng bảy thứ báu đầy dẫy trong đó, cung điện của các trời ở gần trên hư không, người cùng trời giao tiếp nhau, hai bên đều thấy được nhau, không có đường dữ cũng không có người nữ. Tất cả chúng sinh đều do biến hóa sinh, không có dâm dục, được pháp thần thông lớn, thân chói ánh sáng, bay đi tự tại, chí niệm bền chắc có đức tinh tấn trí huệ, tất cả đều thân sắc vàng đủ ba mươi hai tướng tốt để tự trang nghiêm. Nhân dân nước đó thường dùng hai thức ăn: Một là pháp-hỷ thực, hai là thiền- duyệt thực74. Có vô lượng vô số nghìn muôn ức na-do-tha các chúng Bồ-Tát được sức thần thông lớn, bốn trí vô ngại75, khéo hay giáo hóa loài chúng sinh. Chúng Thanh-văn trong nước đó tính kể số đếm đều không thể biết được, đều được đầy đủ ba món Minh, sáu pháp thần thông và tám món giải thoát76. Cõi nước của đức Phật đó có vô lượng công đức trang nghiêm thành tựu như thế, kiếp tên Bảo-Minh, nước tên Thiện-Tịnh. Phật đó sống lâu vô lượng vô số kiếp, pháp trụ đời rất lâu. Sau khi Phật diệt độ, dựng tháp bằng bảy thứ báu khắp cả nước đó. Bấy giờ, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói bài kệ rằng:

3.-Các Tỳ-kheo lóng nghe

Đạo của Phật tử làm

Vì khéo học phương tiện

Chẳng thể nghĩ bàn được

Biết chúng ưa pháp nhỏ

Mà sợ nơi trí lớn

Cho nên các Bồ-Tát

Làm Thanh-văn, Duyên-giác

Dùng vô số phương tiện

Độ các loài chúng sinh,

Tự nói là Thanh-văn

Cách Phật đạo rất xa

Độ thoát vô lượng chúng

Thảy đều được thành tựu

Dầu ưa nhỏ, biếng lười

Sẽ khiến lần thành Phật.

Trong ẩn hạnh Bồ-Tát

Ngoài hiện là Thanh-văn,

Ít muốn, nhàm sinh tử

Thật tự tịnh cõi Phật

Bày ba độc cho người77

Lại hiện tướng tà kiến,

Đệ tử ta như vậy

Phương tiện độ chúng sinh

Nếu ta nói đủ cả

Các món việc hiện hóa

Chúng sinh nghe đó rồi

Thời lòng sinh nghi lầm.

4.-Nay Phú-Lâu-Na đây

Ở xưa nghìn ức Phật

Siêng tu đạo mình làm

Tuyên hộ các Phật pháp

Vì cầu huệ vô thượng

Mà ở chỗ Chư Phật

Hiện ở trên đệ tử

Học rộng có trí huệ

Nói pháp không sợ sệt

Hay khiến chúng vui mừng

Chưa từng có mỏi mệt

Để giúp nên việc Phật.

Đã được thần thông lớn

Đủ bốn trí vô ngại

Biết các căn lợi độn

Thường nói pháp thanh tịnh

Diễn xướng nghĩa như thế

Để dạy nghìn ức chúng

Khiến trụ pháp Đại-thừa

Mà tự tịnh cõi Phật.

Đời sau cũng cúng dường

Vô lượng vô số Phật

Hộ trợ tuyên chánh pháp

Cũng tự tịnh cõi Phật

Thường dùng các phương tiện

Nói pháp không e sợ

Độ chúng không kể được

Đều thành nhứt-thiết-trí

Cúng dường các Như-Lai

Hộ trì tạng Pháp-bảo,

Sau đó được thành Phật

Hiệu gọi là Pháp-Minh

Nước đó tên Thiện-Tịnh

Bảy thứ báu hợp thành

Kiếp tên là Bảo-Minh

Chúng Bồ-Tát rất đông

Số nhiều vô lượng ức

Đều được thần thông lớn

Sức uy đức đầy đủ

Khắp đầy cả nước đó,

Thanh-văn cũng vô số

Ba minh tám giải thoát

Được bốn trí vô ngại

Dùng hạng này làm Tăng.

Chúng sinh trong cõi đó

Dâm dục đều đã dứt

Thuần một biến hóa sinh

Thân trang nghiêm đủ tướng

Pháp-hỷ, thiền-duyệt thực

Không tưởng món ăn khác,

Không có hàng nữ-nhân

Cũng không các đường dữ.

Phú-Lâu-Na Tỳ-kheo

Khi công đức trọn đầy

Sẽ được Tịnh-độ này

Chúng hiền Thánh rất đông

Vô-lượng việc như thế

Nay ta chỉ lược nói.

5.-Bấy giờ, một nghìn hai trăm vị A-la- hán, bậc tâm tự tại, nghĩ như vầy: “Chúng ta vui mừng được điều chưa từng có, nếu đức Thế-Tôn đều thọ ký cho như các đệ tử lớn khác thời sung sướng lắm”.

Đức Phật biết tâm niệm của các vị đó nên nói với ngài đại Ca-Diếp: “Một nghìn hai trăm vị A-la-hán đó, nay ta sẽ hiện tiền thứ tự mà thọ ký đạo vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác”. Trong chúng đó, đệ-tử lớn của ta là Kiều-Trần-Như Tỳ kheo, sẽ cúng dường sáu muôn hai nghìn ức đức Phật, vậy sau được thành Phật hiệu là Phổ-Minh Như- Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh- hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô- thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên- Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn. Năm trăm vị A-la-hán: Ông Ưu-Lâu Tần-Loa Ca-Diếp, ông Già-Da Ca-Diếp, ông Na-Đề Ca-Diếp, ông Ca-Lưu Đà-Di, ông Ưu-Đà-Di, ông A-Nâu-Lâu-Đà, ông Ly-Bà-Đa, ông Kiếp-Tân-Na, ông Bạc- Câu-La, ông Chu-Đà, ông Sa-Dà-Đà, v.v... đều sẽ được đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, đều đồng một hiệu là Phổ- Minh. Bấy giờ đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6.-Kiều-Trần-Như Tỳ-kheo

Sẽ gặp vô lượng Phật

Qua vô số kiếp sau

Mới được thành chánh-giác

Thường phóng quang minh lớn

Đầy đủ các thần thông

Danh đồn khắp mười phương

Tất cả đều tôn kính

Thường nói pháp vô thượng

Nên hiệu là Phổ-Minh

Cõi nước đó thanh tịnh

Bồ-Tát đều dũng mãnh

Đều lên lầu gác đẹp

Dạo các nước mười phương

Đem đồ cúng vô thượng

Hiến dâng các đức Phật

Làm việc cúng đó xong

Sinh lòng rất vui mừng

Giây lát về bổn quốc

Có sức thần như thế.

Phật thọ sáu muôn kiếp

Chánh pháp trụ bội thọ

Tượng pháp78 lại hơn chánh

Pháp diệt trời người lo

7.-Năm trăm Tỳ-kheo kia

Thứ tự sẽ làm Phật

Đồng hiệu là Phổ-Minh

Thứ lớp thọ ký nhau:

Sau khi ta diệt độ

Ông đó sẽ làm Phật

Thế gian của ông độ

Cũng như ta ngày nay

Cõi nước đó nghiêm sạch

Và các sức thần thông

Chúng Thanh-văn Bồ-Tát

Chánh pháp cùng tượng pháp

Thọ mạng kiếp nhiều ít

Đều như trên đã nói

Ca-Diếp! Ông đã biết

Năm trăm vị tự tại

Các chúng Thanh-văn khác

Cũng sẽ làm như thế

Vị nào vắng mặt đây

Ông nên vì tuyên nói.

8.-Bấy giờ, năm trăm vị A-la-hán ở trước Phật được thọ ký xong, vui mừng hớn hở liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật ăn năn lỗi của mình mà tự trách: Thế-Tôn! Chúng con thường nghĩ như vầy, tự cho mình đã được rốt ráo diệt độ, nay mới biết đó là như người vô trí. Vì sao? Chúng con đáng được trí huệ của Như-Lai mà bèn tự lấy trí nhỏ cho là đủ. Thế-Tôn! Thí như có người đến nhà bạn thân say rượu mà nằm, lúc đó người bạn thân có việc quan phải đi, lấy châu báu vô giá cột trong áo của gã say, cho nó rồi đi. Gã đó say mèm đều không hay biết, sau khi dậy bèn dạo đi đến nước khác, vì việc ăn mặc mà phải gắng sức cầu tìm rất là khổ nhọc, nếu có được chút ít bèn cho là đủ. Lúc sau người bạn thân gặp gỡ thấy gã bèn bảo rằng: “Lạ thay! Anh này sao lại vì ăn mặc mà đến nỗi này. Ta lúc trước muốn cho anh được an vui tha hồ thọ năm món dục, ở ngày tháng năm đó, đem châu báu vô giá cột vào trong áo anh nay vẫn còn đó mà anh không biết, lại đi nhọc nhằn sầu khổ để cầu tự nuôi sống thật là khờ lắm; nay anh nên đem ngọc báu đó đổi chác lấy đồ cần dùng thì thường được vừa ý không chỗ thiếu thốn”. Đức Phật cũng lại như vậy, lúc làm Bồ- Tát giáo hóa chúng con, khiến phát lòng cầu nhứt-thiết-trí, mà chúng con liền bỏ quên không hay không biết. Đã được đạo A-la-hán tự nói là diệt-độ, khổ nhọc nuôi sống được chút ít cho là đủ, tất cả trí nguyện vẫn còn chẳng mất. Ngày nay đức Thế-Tôn giác ngộ chúng con mà nói rằng: “Các Tỳ-kheo! Đạo của các ông không phải rốt ráo diệt. Ta từ lâu đã khiến các ông gieo căn lành của Phật, dùng sức phương tiện chỉ tướng Niết-bàn mà các ông cho là thật được diệt độ”. Thế-Tôn! Chúng con nay mới biết mình thật là Bồ Tát được thọ ký sẽ thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Vì nhân-duyên đó lòng rất vui mừng được điều chưa từng có.

Bấy giờ, ông A-Nhã Kiều-Trần-Như muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

9.-Chúng con nghe vô thượng

Tiếng thọ ký an ổn

Vui mừng chưa từng có

Lạy Phật trí vô lượng.

Nay ở trước Thế-Tôn

Tự hối các lỗi quấy

Trong Phật báu vô lượng

Được chút phần Niết-bàn

Bèn tự cho là đủ

Như người ngu vô trí

Thí như người nghèo cùng

Qua đến nhà bạn thân

Nhà đó rất giàu lớn

Bày đủ các tiệc ngon

Đem châu báu vô giá

Cột dính trong vạt áo

Thầm cho rồi bỏ đi

Gã say nằm không hay

Sau khi gã tỉnh dậy.

Dạo đi đến nước khác

Cầu ăn mặc tự sống

Nuôi sống rất khốn khổ

Được ít cho là đủ

Chẳng lại muốn đồ tốt

Chẳng biết trong vạt áo

Có châu báu vô giá

Người thân hữu cho châu

Sau gặp gã nghèo này

Khổ thiết trách gã rồi

Chỉ cho châu trong áo.

Gã nghèo thấy châu đó

Lòng gã rất vui mừng

Giàu có các của cải

Tha hồ hưởng ngũ dục.

Chúng con cũng như vậy

Thế-Tôn từ lâu xưa

Thường thường giáo hóa cho

Khiến gieo nguyện vô thượng

Chúng con vì vô trí

Chẳng hay cũng chẳng biết

Được chút phần Niết-bàn

Cho đủ chẳng cầu nữa.

Nay Phật giác ngộ con

Nói chẳng phải thật diệt.

Được Phật huệ vô thượng

Đó mới là thật diệt

Con nay từ Phật nghe

Thọ ký việc trang nghiêm

Cùng tuần tự thọ ký

Thân tâm khắp vui mừng.

 

Thích Nghĩa

  1. Bốn chúng:
  1. .- Tỳ-kheo ; 2.- Tỳ-kheo ni ; 3.- Ưu-bà-tắc, 4.- Ưu-bà-di.
  1. Lãnh hội pháp mầu, lòng vui mừng, thân khoan khoái gọi là “pháp-hỷ-thực”. Trụ trong thiền định, tâm an, thân khoẻ gọi là “Thiền-duyệt-thực”.
  2. Bốn trí vô ngại:
  1. .- Pháp-vô-ngại (có trí nói pháp suốt thông)
  2. .- Từ-vô-ngại (lời tiếng đầy đủ không trệ)
  3. .- Nghĩa-vô-ngại (nghĩa ý thấu đáo)
  4. .- Nhạo-thuyết-vô-ngại (thường ưa thích nói pháp).
  1. Tám món giải thoát:
  1. .- Nội hữu sắc tướng ngoại quán sắc giải thoát
  2. .- Nội vô sắc tướng ngoại quán sắc giải thoát
  3. .- Tịnh bội xả thân tác chứng giải thoát
  4. .- Hư không xứ giải thoát
  5. .- Thức vô biên xứ giải thoát
  6. .- Vô sở hữu xứ giải thoát
  7. .- Phi hữu tưởng phi vô tưởng giải thoát
  8. .- Diệt thọ tưởng giải thoát.
  1. Ba độc: Tham, sân, si.
  2. Sau khi Phật diệt độ,     thời  kỳ  đầu giáo   pháp cùng   người

tu,chứng quả v.v., cũng     như khi Phật còn  tại thế thời   gọi là

“thời kỳ chánh pháp”. Lần lần người tu và chứng quả không được như trước thời gọi là “thời kỳ tượng pháp” (tương tự).

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “THỌ-HỌC VÔ- HỌC NHÂN-KÝ” THỨ CHÍN

1.-Bấy giờ, ngài A-Nan và ngài La- Hầu-La nghĩ như vầy: “Chúng ta tự suy nghĩ, nếu được thọ ký thời sung sướng lắm”. Liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật đồng bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Chúng con trong đây cũng đáng có phần, chỉ có đức Như-Lai là chỗ về nương của chúng con. Lại chúng con là người quen biết của tất cả trời, người, A-tu-la trong đời. A-Nan thường làm vị thị giả hộ trì tạng pháp, La- Hầu-La là con của Phật, nếu Phật thọ-ký đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác cho, thời lòng nguyện cầu của con đã mãn, mà lòng trông của chúng cũng được đủ”.

Lúc đó, hàng đệ-tử Thanh-văn, bậc học cùng vô-học, hai nghìn người đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trệch vai áo bên hữu đến trước Phật chấp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Thế-Tôn như chỗ nguyện cầu của A-Nan và La-Hầu-La, rồi đứng qua một phía.

2.-Bấy giờ, đức Phật bảo A-Nan: Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu là Sơn-Hải- Tuệ Tự-Tại Thông-Vương Như-Lai, Ứng- cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn; ông sẽ cúng dường sáu mươi hai ức đức Phật, hộ trì tạng pháp vậy sau chứng được đạo vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác, giáo hóa hai mươi nghìn muôn ức hằng-hà-sa các chúng Bồ-Tát vv... làm cho thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Nước tên là Thường-Lập-Thắng-Phan, cõi đó thanh tịnh, đất bằng chất lưu ly, kiếp tên Diệu-Âm Biến-Mãn. Đức Phật đó thọ mạng vô lượng nghìn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp, nếu có người ở trong nghìn muôn ức vô lượng a-tăng-kỳ kiếp tính đếm số kể chẳng có thể biết được, chánh pháp trụ đời gấp bội thọ mạng, tượng pháp lại gấp bội chánh pháp. A-Nan! Đức Phật Sơn-Hải-Tuệ-Tự-Tại-Thông-Vương đó, được vô lượng nghìn muôn ức hằng-hà-sa các đức Phật Như-Lai ở mười phương đồng ngợi khen công đức của ngài.

Khi đó đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

3.-Nay Ta nói trong Tăng

A-Nan, người trì pháp

Sẽ cúng dường các Phật

Vậy sau thành chánh giác

Hiệu rằng: Sơn-Hải-Tuệ Tự-Tại-Thông-Vương Phật

Cõi nước kia thanh tịnh

Tên Thường-Lập-Thắng-Phan

Giáo hóa các Bồ-Tát

Số đông như hằng sa

Phật có oai đức lớn

Tiếng đồn khắp mười phương

Vì bởi thương chúng sinh

Nên sống lâu vô lượng

Chánh pháp bội thọ mạng

Tượng pháp lại bội chánh

Vô số hàng chúng sinh

Đông như cát sông Hằng

Ở trong pháp Phật đó

Gieo nhân duyên Phật đạo.

5.-Bấy giờ, trong hội hàng Bồ-Tát mới phát tâm, tám nghìn người, đều nghĩ thế này: “Chúng ta còn chưa nghe các vị Bồ-Tát lớn được thọ ký như thế, có nhân duyên gì mà các Thanh-văn được thọ ký như thế.” Lúc ấy, đức Thế-Tôn biết tâm niệm của các vị Bồ-Tát mà bảo rằng: “Các Thiện-nam tử! Ta cùng bọn ông A-Nan ở chỗ đức Phật Không-Vương đồng thời phát tâm vô-thượng chánh-đẳng chánh- giác. A-Nan thường ưa học rộng, còn ta thường siêng năng tinh tấn, cho nên nay ta đã thành vô-thượng chánh-đẳng chánh- giác mà A-Nan hộ trì pháp của ta, ông cũng sẽ hộ trì pháp tạng của các đức Phật tương lai, giáo-hóa thành tựu các chúng Bồ-Tát. Bổn nguyện của ông như thế nên được thọ ký dường ấy.” Ngài A-Nan tận mặt ở trước Phật, tự nghe Phật thọ ký cùng cõi nước trang nghiêm, chỗ mong cầu đã đủ, lòng rất vui mừng được điều chưa từng có. Tức thời nghĩ nhớ tạng pháp của vô lượng nghìn muôn ức các đức Phật thuở quá khứ, suốt thấu không ngại như hiện nay nghe và cũng biết bổn nguyện. Khi đó, ngài A-Nan nói kệ rằng:

Thế-Tôn rất ít có

Khiến con nhớ quá khứ

Vô lượng các Phật Pháp

Như chỗ nghe ngày nay

Con nay không còn nghi

An trụ trong Phật đạo

Phương tiện làm thị giả

Hộ trì các Phật Pháp.

6.-Bấy giờ, Phật bảo ông La-Hầu-La: Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu: Đạo-Thất-Bảo-Hoa, Như-Lai Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật, Thế- Tôn. Ông sẽ cúng dường các đức Phật Như-Lai như số vi trần trong mười thế giới. Thường vì các đức Phật mà làm trưởng tử, cũng như hiện nay. Đức Phật Đạo-Thất-Bảo-Hoa đó, cõi nước trang nghiêm, kiếp số thọ mạng, giáo hóa đệ tử, chánh pháp và tượng pháp cũng đồng như đức Sơn-Hải-Tuệ-Tự-Tại- Thông-Vương Như Lai không khác. Ông cũng làm trưởng tử cho Phật này, qua sau đây rồi sẽ được đạo vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác. Lúc đó đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Lúc ta làm Thái tử

La-Hầu làm trưởng tử.

Ta nay thành Phật đạo

Thọ pháp làm Pháp-tử.

Ở trong đời vị lai

Gặp vô lượng ức Phật

Làm trưởng tử cho kia

Một lòng cầu Phật đạo.

Hạnh kín của La-Hầu

Chỉ ta biết được thôi

Hiện làm con cả ta

Để chỉ các chúng sinh

Vô lượng ức nghìn muôn

Công đức không thể đếm

An trụ trong Phật pháp

Để cầu đạo vô thượng.

6.-Bấy giờ, đức Thế-Tôn thấy bậc hữu- học cùng vô-học hai nghìn người, chí ý hòa dịu vắng lặng trong sạch, một lòng nhìn Phật, Phật bảo A-Nan: “Ông thấy bậc hữu-học vô-học nghìn người đây chăng?” Vâng! Con đã thấy. - A-Nan! Các người sẽ cúng dường các đức Như-Lai như số vi trần trong năm mươi thế giới, cung kính tôn trọng hộ trì pháp tạng. Rốt sau đồng thời ở cõi nước trong mười phương đều được thành Phật, đều đồng một hiệu là Bảo-Tướng Như-Lai Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu. Thiên-nhân-sư, Phật Thế-Tôn, sống lâu một kiếp, cõi nước trang nghiêm, Thanh-văn, Bồ-Tát, chánh pháp, tượng pháp thảy đều đồng nhau. Lúc đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Hai nghìn Thanh-văn đây

Nay đứng ở trước ta

Thảy đều thọ ký cho

Đời sau sẽ thành Phật

Cúng dường các đức

Phật Như số trần nói trên.

Hộ trì tạng pháp Phật

Sau sẽ thành Chánh-giác

Đều ở nơi mười phương

Thảy đồng một danh hiệu

Đồng thời ngồi đạo tràng

Để chứng huệ vô thượng

Đều hiệu là Bảo-Tướng

Cõi nước cùng đệ tử

Chánh pháp và tượng pháp

Thảy đều không có khác.

Đều dùng các thần thông

Độ mười phương chúng sinh

Tiếng đồn vang khắp cùng

Lần nhập vào Niết-bàn.

Lúc đó, bậc hữu-học cùng vô-học hai nghìn người nghe đức Phật thọ ký vui mừng hớn hở mà nói kệ rằng: Thế-Tôn đèn tuệ sáng Con nghe tiếng thọ ký Lòng vui mừng đầy đủ Như được rưới cam lộ.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “PHÁP SƯ” THỨ MƯỜI

 

1.-Lúc bấy giờ, đức Thế-Tôn nhân nói với Dược-Vương Bồ-Tát để bảo tám muôn Đại sĩ rằng: “Dược-Vương! Trong đại chúng đây vô lượng hàng chư Thiên, Long-vương, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhân cùng phi nhân, và Tỳ-kheo, Tỳ- kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, hạng cầu Thanh-văn, hạng cầu Bích-chi-Phật, hạng cầu Phật đạo, các loại như thế đều ở trước Phật nghe kinh Diệu-Pháp-Liên-Hoa một bài kệ một câu nhẫn đến một niệm tùy hỷ đó, ta đều thọ ký cho sẽ được vô-thượng chánh-đẳng-chánh-giác.” Phật bảo Dược-Vương: “Lại sau khi đức Như-Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh Diệu-Pháp-Liên-Hoa, nhẫn đến một bài kệ một câu niệm tùy hỷ đó, ta cũng thọ ký cho đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh- giác. Nếu lại có người thọ trì đọc tụng, giải nói, biên chép kinh Diệu-Pháp-Liên-Hoa, nhẫn đến một bài kệ, đối kinh điển này cung kính xem như Phật. Các thứ cúng dường, hoa, hương, chuỗi ngọc hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, nhẫn đến chấp tay cung kính. Dược-Vương nên biết! Các người trên đó đã từng cúng dường mười muôn ức Phật, ở chỗ các đức Phật thành tựu chí nguyện lớn vì thương xót chúng sinh mà sinh vào nhân gian.

Dược-Vương! Nếu có người hỏi những chúng sinh nào ở đời vị lai sẽ được làm Phật? Nên chỉ các người trên đó ở đời vị lai ắt được làm Phật. Vì sao? Nếu có gã thiện-nam, người thiện-nữ nào ở nơi kinh Pháp-Hoa nhẫn đến một câu, thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép. Các thứ cúng dường kinh quyển, hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, chấp tay cung kính. Người đó tất cả trong đời đều nên chiêm ngưỡng sùng phụng. Nên đem đồ cúng dường Như-lai mà cúng đó. Phải biết người đó là Bồ-Tát lớn thành xong đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, vì thương xót chúng sinh mà nguyện sinh trong đời để rộng nói phân biệt kinh Diệu- Pháp Liên-Hoa, huống lại người trọn hay thọ trì và các thứ cúng dường. Dược-Vương nên biết! Người đó tự bỏ nghiệp báo thanh tịnh sau khi ta diệt độ vì thương chúng sinh mà sinh nơi đời ác, rộng nói kinh này. Nếu người thiện-nam, người thiện-nữ đó, sau khi ta diệt độ có thể riêng vì một người nói kinh Pháp-Hoa, nhẫn đến một câu, phải biết người đó là sứ của Như-Lai, đức Như-Lai sai làm việc của Như-Lai, huống là ở trong đại chúng rộng vì người nói. Dược-Vương! Nếu có người ác dùng tâm không lành ở trong một kiếp hiện ở trước Phật thường chê mắng Phật, tội đó còn nhẹ. Nếu có người dùng một lời dữ chê mắng người tại gia hay xuất gia đọc tụng kinh Pháp-Hoa, tội đây rất nặng. Dược-Vương! Có người đọc tụng kinh Pháp-Hoa, phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật tự trang nghiêm mình, thời được Như-Lai dùng vai mang vác. Người đó đến đâu, mọi người nên hướng theo làm lễ, một lòng chắp tay cung kính cúng dường, tôn trọng, ngợi khen: Hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan, y phục, đồ ngon, trổi các thứ kỹ nhạc, đồ cúng bậc thượng của trong loài người mà đem cúng dường cho người đó, nên cầm hoa báu trời mà rải cúng đó, nên đem đống báu trên trời dâng cho đó. Vì sao? Người đó hoan hỷ nói pháp, giây lát nghe pháp liền được rốt ráo vô- thượng chánh-đẳng chánh giác vậy. Bấy giờ, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2.-Nếu muốn trụ Phật đạo

Thành tựu trí tự nhiên

Thường phải siêng cúng dường

Người Thọ trì Pháp-Hoa.

Có ai muốn mau được

Nhứt-thiết-chủng trí-huệ

Nên thọ trì kinh này

Và cúng dường người trì.

Nếu người hay thọ trì

Kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa

Nên biết là sứ Phật

Thương nhớ các chúng sinh

Những người hay thọ trì

Kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa

Xa bỏ cõi thanh tịnh

Thương chúng nên sinh đây

Phải biết người như thế

Chỗ muốn sinh tự tại

Ở nơi đời ác này

Rộng nói pháp vô thượng,

Nên đem hoa, hương trời

Và y phục, báu trời

Đống báu tốt trên trời

Cúng dường người nói pháp

Đời ác, sau ta diệt

Người hay trì kinh này

Phải chấp tay lễ kính

Như cúng dường Thế-Tôn,

Đồ ngon ngọt bậc thượng

Và các món y phục

Cúng dường Phật tử đó

Mong được giây lát nghe.

Nếu người ở đời sau

Hay thọ trì kinh này

Ta khiến ở trong người

Làm việc của Như-Lai.

Nếu ở trong một kiếp

Thường ôm lòng chẳng lành

Đỏ mặt mà mắng Phật

Mắc vô lượng tội nặng

Có người đọc tụng trì

Kinh Diệu-Pháp-Hoa này

Giây lát dùng lời mắng

Tội đây lại hơn kia.

Có người cầu Phật đạo

Mà ở trong một kiếp

Chấp tay ở trước ta

Dùng vô số kệ khen

Do vì khen Phật vậy

Được vô lượng công đức.

Khen ngợi người trì kinh

Phước đây lại hơn kia.

Trong tám mươi ức kiếp

Dùng sắc thanh tối diệu

Và cùng hương, vị, xúc

Cúng dường người trì kinh

Cúng dường như thế rồi

Mà được chốc lát nghe

Thời nên tự mừng vui

Nay ta được lợi lớn.

Dược-Vương! Nay bảo ông

Các kinh của ta nói

Mà ở trong kinh đó

Pháp-Hoa tột thứ nhất.

3.-Lúc bấy giờ, Phật lại bảo ngài Dược- Vương Đại Bồ-Tát: “Kinh điển của ta nói nhiều vô lượng nghìn muôn ức, đã nói, hiện nói, sẽ nói, mà ở trong đó kinh Pháp- Hoa rất là khó tin khó hiểu.

Dược-Vương! Kinh này là tạng bí yếu của các đức Phật, chẳng có thể chia bủa vọng trao cho người. Kinh đây là của các đức Phật giữ gìn từ xưa đến nay chưa từng bày nói, mà chính kinh này khi Như- Lai đương hiện tại còn nhiều kẻ oán ghét, huống là sau lúc Phật diệt độ. Dược-Vương nên biết! Sau khi Như- Lai diệt độ, người nào có thể biên chép, thọ trì, đọc tụng, cúng dường vì người khác mà nói, thời được Như-Lai lấy y trùm đó, lại được các đức Phật hiện tại ở phương khác hộ niệm cho. Người đó có sức tin lớn và sức chí nguyện, các sức căn lành, phải biết người đó cùng Như-Lai ở chung, được đức Như-Lai lấy tay xoa đầu.

4.-Dược-Vương! Nơi nơi, chỗ chỗ, hoặc nói, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc chép, hoặc chỗ có quyển kinh này đều nên dựng tháp bằng bảy thứ báu cho tột cao rộng đẹp đẽ, chẳng cần để xá-lợi.

Vì sao? Vì trong đó đã có toàn thân của đức Như-Lai rồi. Tháp đó nên dùng tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, lọng lụa, tràng phan, kỹ nhạc, ca tụng, để cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen. Nếu có người thấy được tháp này mà lễ lạy cúng dường, phải biết những người đó đều gần đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh- giác. Dược-Vương! Có rất nhiều người tại gia cùng xuất gia làm đạo Bồ-Tát, nếu chẳng có thể thấy nghe, đọc tụng, biên chép thọ trì, cúng dường được kinh Pháp- Hoa này, phải biết người đó chưa khéo tu đạo Bồ-Tát. Nếu có người được nghe kinh điển này, mới là hay khéo tu đạo Bồ-Tát. Có chúng sinh nào cầu Phật đạo hoặc thấy hoặc nghe kinh Pháp-Hoa này, nghe xong tin hiểu thọ trì, nên biết người đó được gần đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Dược-Vương! Thí như có người khát tìm nước ở nơi gò cao kia xoi đào tìm đó, vẫn thấy đất khô biết rằng nước còn xa, ra công đào không thôi, lần thấy đất ướt rồi thấy đến bùn, tâm người đó quyết chắc biết rằng nước ắt gần. Bồ-Tát cũng lại như thế, nếu chưa nghe chưa hiểu chưa có thể tu tập kinh Pháp-Hoa này, phải biết người đó cách đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác còn xa. Nếu được nghe hiểu suy gẫm tu tập kinh này, thời chắc biết được gần vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác. Vì sao? Vì đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác của Bồ-Tát đều thuộc kinh này, kinh này mở môn phương tiện bày tướng chân thật. Tạng kinh Pháp-Hoa này, xa kín nhiệm sâu không có người đến được, nay Phật vì giáo hóa để thành tựu Bồ-Tát mà chỉ bày cho. Dược-Vương! Nếu có Bồ-Tát nghe kinh Pháp-Hoa này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là Bồ-Tát mới phát tâm. Nếu hàng Thanh-văn nghe kinh này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là hàng tăng- thượng-mạn[1].

5.-Dược-Vương! Nếu có người thiện- nam, người thiện-nữ nào sau khi đức Như- Lai diệt độ muốn vì hàng bốn chúng mà nói kinh Pháp-Hoa này thời phải nói cách thế nào? Người thiện-nam, thiện-nữ đó phải vào nhà Như-Lai, mặc y Như-Lai, ngồi tòa Như-Lai, rồi mới nên vì bốn chúng mà rộng nói kinh này. Nhà Như-Lai chính là tâm từ bi lớn đối với trong tất cả chúng sinh, y Như-Lai chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục, tòa Như-Lai chính là nhứt thiết pháp không. An trụ trong đây, sau rồi dùng tâm không biếng trễ vì các Bồ-Tát và bốn chúng rộng nói kinh Pháp-Hoa này. Dược-Vương! Bấy giờ Ta ở nước khác sai hàng hóa nhân làm chúng nhóm nghe pháp của người đó, Ta cũng sai hóa Tỳ- kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di nghe người đó nói pháp. Các người biến hóa đó nghe pháp tin nhận thuận theo không hề trái. Nếu người nói pháp ở chỗ vắng vẻ, Ta liền sai nhiều trời, rồng, quỉ, thần, Càn-thát-bà, A-tu-la v.v... nghe người đó nói pháp. Ta dầu ở nước khác nhưng luôn luôn khiến người nói pháp đó được thấy thân Ta. Nếu ở trong kinh này quên mất câu lối, Ta lại vì nói cho đó được đầy-đủ. Bấy giờ, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6.-Muốn bỏ tánh biếng lười

Nên phải nghe kinh này

Kinh này khó được nghe

Người tin nhận cũng khó.

Như người khát cần nước

Xoi đào nơi gò cao

Vẫn thấy đất khô ráo

Biết cách nước còn xa

Lần thấy đất ướt bùn

Quyết chắc biết gần nước

Dược-Vương! Ông nên biết

Các người như thế đó

Chẳng nghe kinh Pháp-Hoa

Cách trí Phật rất xa,

Nếu nghe kinh sâu này

Quyết rõ pháp Thanh-văn

Đây là vua các kinh

Nghe xong suy gẫm kỹ

Phải biết rằng người đó

Gần nơi trí huệ Phật.

Nếu người nói kinh này

Nên vào nhà Như-Lai

Mặc y của Như-Lai

Mà ngồi tòa Như-Lai

Ở trong chúng không sợ

Rộng vì người giải nói,

Từ bi lớn làm nhà

Ý nhu hòa nhẫn nhục

Các pháp không làm tòa

Ở đó vì người nói.

Nếu lúc nói kinh này

Có người lời ác mắng

Dao, gậy, ngói, đá đánh

Nhớ Phật nên phải nhịn.

Ta trong muôn ức cõi

Hiện thân sạch bền chắc

Trải vô lượng ức kiếp

Vì chúng sinh nói Pháp.

Sau khi Ta diệt độ

Nếu hay nói kinh này

Ta sai hóa tứ chúng

Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni

Và nam, nữ thanh tịnh

Cúng dường nơi Pháp-sư

Dẫn dắt các chúng sinh

Nhóm đó khiến nghe pháp.

Nếu người muốn làm hại

Dao gậy cùng ngói đá

Thời khiến người biến hóa

Giữ gìn cho người đó

Nếu người nói Pháp-Hoa

Ở riêng nơi vắng vẻ

Lặng lẽ không tiếng người

Đọc tụng kinh điển này

Bấy giờ Ta vì hiện

Thân thanh tịnh sáng suốt

Nếu quên mất chương cú

Vì nói khiến thông thuộc.

Nếu người đủ đức này

Hoặc vì bốn chúng nói

Chỗ vắng đọc tụng kinh

Đều được thấy thân ta

Nếu người ở chỗ vắng

Ta sai Trời, Long-vương

Dạ-xoa, quỷ, thần thảy

Vì làm chúng nghe pháp.

Người đó ưa nói pháp

Phân giải không trở ngại

Nhờ các Phật hộ niệm

Hay khiến đại chúng mừng

Nếu ai gần Pháp-sư

Mau được đạo Bồ-Tát

Thuận theo thầy đó học

Được thấy hằng sa Phật.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “HIỆN BẢO THÁP” THỨ MƯỜI MỘT

 

1.-Lúc bấy giờ, trước Phật có tháp bằng bảy báu, cao năm trăm do-tuần, ngang rộng hai trăm năm mươi do-tuần, từ dưới đất nổi lên trụ ở giữa hư không; các món vật báu trau giồi, năm nghìn bao lơn, nghìn muôn phòng nhà, vô số tràng phan để nghiêm sức đó, chuỗi ngọc báu rủ xuống, muôn nghìn linh báu treo trên tháp. Bốn mặt đều thoảng đưa ra mùi hương gỗ ly-cấu chiên-đàn khắp cùng cả cõi nước.

Các phan lọng đều dùng bảy thứ báu, vàng, bạc, lưu ly, xa-cừ, mã-não, trân châu và mai-khôi hợp lại thành, cao đến ngang cung trời Tứ-thiên-vương, trời Đao-Lợi, rưới hoa Mạn-đà-la cúng dường tháp báu.

Các trời khác và rồng, Dạ-xoa, Càn thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhân, phi-nhân v.v..., nghìn muôn ức chúng đều đem tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, phan lọng, kỹ nhạc mà cúng dường tháp báu, đồng cung kính tôn trọng ngợi khen. Bấy giờ trong tháp báu vang tiếng lớn ra khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Đức Thích-Ca Mâu-Ni Thế-Tôn! có thể dùng huệ lớn bình đẳng vì đại chúng nói kinh Diệu-Pháp-Liên-Hoa là pháp giáo hóa Bồ- Tát được Chư Phật hộ niệm. Đúng thế! Đúng thế! Đức Thích-Ca Mâu-Ni Thế-Tôn! như lời Phật nói đó, đều chân thật.”

2 .-Bấy giờ, bốn chúng thấy tháp báu lớn trụ trong hư không, lại nghe trong tháp vang tiếng nói ra đều được pháp hỷ, lấy làm lạ chưa từng có, liền từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chấp tay rồi đứng một bên.

Lúc đó, có vị đại Bồ-Tát tên Đại-Nhạo- 7 Thuyết biết lòng nghi của tất cả trời, người, A-tu-la v.v..., trong thế gian mà bạch Phật rằng: “Bạch Thế-Tôn! Do nhân duyên gì mà có tháp này từ đất nổi lên, lại ở trong tháp vang ra tiếng như thế?” Lúc đó, Phật bảo ngài Đại-Nhạo- Thuyết Bồ-Tát: “Trong tháp báu này có toàn thân Như-Lai, thời quá khứ về trước cách đây vô lượng nghìn muôn ức vô số cõi nước ở phương đông có nước tên Bảo- Tịnh, trong nước đó có Phật hiệu là Đa- Bảo, đức Phật đó tu hành đạo Bồ-Tát phát lời thệ nguyện lớn rằng: “Nếu Ta được thành Phật sau khi diệt độ trong cõi nước ở mười phương có chỗ nào nói kinh Pháp- Hoa, thời tháp miếu của Ta vì nghe kinh đó mà nổi ra nơi trước để làm chứng minh khen rằng: ‘Hay thay!’ Đức Phật đó thành Phật rồi lúc sắp diệt độ ở trong đại chúng trời, người bảo các Tỳ-kheo rằng: “Sau khi Ta diệt độ muốn cúng dường toàn thân của Ta thì nên dựng một tháp lớn.” Đức Phật đó dùng sức nguyện thần thông nơi nơi chỗ chỗ trong mười phương cõi nước, nếu có nói kinh Pháp-Hoa, thì tháp báu đó đều nổi ra nơi trước, toàn thân Phật ở trong tháp khen rằng: “Hay thay! Hay thay!” Đại-Nhạo-Thuyết! Nay tháp của Đa- Bảo Như-Lai vì nghe nói kinh Pháp-Hoa nên từ dưới đất nổi lên khen rằng: “Hay thay! Hay thay!”

3.-Bấy giờ, ngài Đại-Nhạo-Thuyết Bồ- Tát do sức thần của đức Như-Lai mà bạch Phật rằng: “Bạch Thế-Tôn! Chúng con nguyện muốn thấy thân của đức Phật đó.” Phật bảo ngài Đại-Nhạo-Thuyết Bồ-Tát Ma-ha-tát: Phật Đa-Bảo đó có nguyện sâu nặng: “Nếu lúc tháp báu của Ta vì nghe kinh Pháp-Hoa mà hiện ra nơi trước các đức Phật, có Phật nào muốn đem thân Ta chỉ bày cho bốn chúng, thời các vị Phật

của Phật đó phân thân ra nói pháp ở các cõi nước trong mười phương đều phải nhóm cả một chỗ, vậy sau thân của Ta mới hiện ra.” Đại-Nhạo-Thuyết! Các vị Phật của Ta phân thân nói pháp ở các cõi nước trong mười phương nay nên sẽ nhóm lại. Ngài Đại-Nhạo-Thuyết bạch Phật rằng: “Thưa Thế-Tôn! Chúng con cũng nguyện muốn thấy các vị Phật của Thế-Tôn phân thân để lễ lạy cúng dường.” .-Bấy giờ, Phật phóng một lằn sáng nơi lông trắng giữa chặn mày, liền thấy năm trăm muôn ức na-do-tha hằng-hà-sa cõi nước ở phương Đông. Các cõi nước đó đều dùng pha lê làm đất, cây báu, y báu để làm đồ trang nghiêm, vô số nghìn muôn ức Bồ-Tát đầy dẫy trong nước đó. Khắp nơi giăng màn báu, lưới báu phủ trên, đức Phật trong nước đó đều dùng tiếng lớn tốt mà nói các pháp, và thấy vô lượng nghìn muôn ức Bồ-Tát khắp đầy trong nước đó vì chúng sinh mà nói pháp. Phương Nam, Tây, Bắc, bốn phía, trên dưới chỗ tướng sáng lông trắng chiếu đến cũng lại như thế. Lúc đó, các Phật ở mười phương đều bảo chúng Bồ-Tát rằng: Thiện-nam-tử! Ta nay phải qua thế giới Ta-Bà, chỗ của đức Thích Ca Mâu Ni Phật, cùng để cúng dường tháp báu của Đa-Bảo Như-Lai.”

4.-Lúc bấy giờ, cõi Ta-bà liền biến thành thanh tịnh, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng ngăn tám đường, không có các tụ lạc làng xóm, thành ấp, biển cả, sông ngòi, núi sông cùng rừng bụi. Đốt hương báu lớn, hoa mạn-đà-la trải khắp cõi đất, dùng lưới màn báu giăng trùm ở trên, treo những linh báu, chỉ lưu lại chúng trong hội này, dời các trời người để ở cõi khác. Lúc đó các đức Phật đều đem theo một vị Bồ-Tát lớn để làm thị giả qua cõi Ta-bà đều đến dưới cây báu, mỗi mỗi cây báu cao năm trăm do-tuần, nhánh lá hoa trái thứ lớp rất trang nghiêm. Dưới các cây báu đều có tòa báu sư-tử cao năm do-tuần cũng dùng đồ báu tốt mà trau giồi đó. Khi ấy, các đức Phật đều ngồi xếp bằng trên tòa này, như thế lần lượt đến khắp đầy cả cõi tam-thiên đại-thiên mà ở nơi thân của đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật phân ra trong một phương vẫn còn chưa hết. Bấy giờ, đức Thích-Ca Mâu-Ni vì muốn dung thọ các vị Phật của mình phân thân, nên ở tám phương lại biến thành hai trăm muôn ức na-do-tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh cùng A-tu-la, lại cũng dời các hàng trời người để ở cõi khác. Những nước của Phật biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm cao năm trăm do-tuần, nhánh lá hoa trái đều có thứ lớp tốt đẹp, dưới cây đều có tòa báu sư-tử cao năm do-tuần, dùng các thứ báu để trau giồi. Những nước đó cũng không có biển cả sông ngòi và các núi lớn: Núi Mục-chân-lân-đà, núi Thiết-vi, núi Đại thiết-vi, núi Tu-di v.v... thông làm một cõi nước Phật, đất báu bằng thẳng, các báu xen lẫn nhau làm màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu lớn, các hoa trời báu trải khắp trên đất. Đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật vì các Phật sẽ đến ngồi, nên ở nơi tám phương lại đều biến thành hai trăm muôn ức na-do-tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh và A-tu-la, lại dời các hàng trời người để ở cõi khác. Những nước biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm, cao năm trăm do-tuần nhánh lá hoa trái thứ tự tốt đẹp, dưới cây đều có tòa sư-tử bằng báu cao năm do-tuần, cũng dùng chất báu tốt mà trau giồi đó. Những nước này cũng không có biển cả sông ngòi và các núi: Núi Mục-chân-lân-đà, núi đại Mục-chân-lân-đà, núi Thiết-vi, núi đại thiết-vi, núi Tu-di v.v... thông lại làm một cõi nước Phật đất báu bằng thẳng, các báu đương xen lẫn nhau thành màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu tốt, các thứ hoa trời báu trải khắp trên đất. Bấy giờ, ở phương Đông, các đức Phật trong trăm nghìn muôn ức na-do-tha hằng-hà-sa cõi nước của đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật phân thân ra, thảy đều nói pháp đến nhóm ở cõi này. Tuần tự như thế, các đức Phật trong cõi nước ở mười phương thảy đều đến nhóm ngồi ở tám phương. Bấy giờ, mỗi mỗi phương các đức Như-Lai ngồi khắp đầy trong bốn trăm muôn ức na-do-tha cõi nước.

5.-Lúc đó, các đức Phật đều ngồi tòa sư-tử dưới cây báu, đều sai vị thị giả qua thăm viếng đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật, đều đưa cho đầy bụm hoa báu mà bảo thị- giả rằng: Thiện-nam-tử! Ngươi qua đến

núi Kỳ-xà-Quật, chỗ của đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật, theo như lời của ta mà thưa cùng Phật thế này: “Như-Lai có được ít bệnh ít khổ sức khỏe an vui, và chúng Bồ- Tát cùng Thanh-văn đều an ổn chăng?”, rồi đem hoa báu này rải trên Phật để cúng dường mà thưa rằng: “Đức Phật kia cũng muốn mở tháp báu này.”; các đức Phật sai người đến cũng như vậy.

Bấy giờ, đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật thấy các vị Phật của mình phân thân đến ngồi trên tòa sư-tử, đều nghe các Phật cùng muốn đồng mở tháp báu, Phật liền từ chỗ ngồi đứng dậy trụ trên hư không, tất cả hàng bốn chúng đồng đứng dậy chấp tay một lòng nhìn Phật. Khi ấy đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật dùng ngón tay hữu mở cửa tháp bảy báu vang ra tiếng lớn, như tháo khóa chốt mở cửa thành lớn.

Tức thời tất cả chúng trong hội đều thấy đức Đa-Bảo Như-Lai ở trong tháp báu ngồi tòa sư-tử, toàn thân không rã như vào cảnh thiền định lại nghe Phật đó nói: “Hay thay! Hay thay! Thích-Ca Mâu- Ni Phật sướng thích nói kinh Pháp-Hoa đó, Ta vì nghe kinh đó mà đến cõi này.” Bấy giờ, hàng tứ chúng thấy đức Phật đã diệt độ vô lượng nghìn muôn ức kiếp về trước nói lời như thế đều khen là việc chưa từng có, đều đem hoa trời báu rải trên đức Phật Đa-Bảo và Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Lúc đó đức Đa-Bảo Phật ở trong tháp báu chia nửa tòa cho Thích-Ca Mâu-Ni Phật mà nói rằng: “Thích-Ca Mâu-Ni có thể đến ngồi trên tòa này.” Tức thời đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật vào trong tháp báu ngồi xếp bằng trên nửa tòa đó. Bấy giờ, hàng đại chúng thấy hai đức Như-Lai xếp bằng trên tòa sư tử trong tháp bảy báu thì đều nghĩ rằng: “Đức Phật ngồi trên cao xa, cúi mong đức Như-Lai dùng sức thần thông làm cho bọn chúng con đều được ở trên hư không.” Tức thời đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật dùng sức thần thông tiếp hàng đại chúng đều ở hư không, rồi dùng tiếng lớn mà khắp bảo đó rằng: “Ai có thể ở trong cõi Ta-bà này rộng nói kinh Diệu-Pháp Liên- Hoa nay chính phải lúc. Như-Lai không bao lâu sẽ vào Niết-bàn, Phật muốn đem kinh Pháp-Hoa này phó chúc cho các người.” Khi ấy, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6.-Đấng Thánh-chúa Thế-Tôn.

Dù diệt độ đã lâu

Ở trong tháp báu này

Còn vì pháp mà đến

Các ông lại thế nào

Há chẳng siêng vì pháp?

Phật Đa-Bảo diệt độ

Đã vô lượng số kiếp

Nơi nơi đến nghe pháp

Vì khó gặp được vậy.

Phật kia bản nguyện rằng:

Sau khi Ta diệt độ

Nơi nơi tháp Ta qua

Thường vì nghe Pháp-Hoa.

Lại vô lượng các Phật.

Số nhiều như hằng sa

Của Ta phân thân ra

Vì muốn đến nghe pháp

Và cùng để ra mắt

Phật diệt độ Đa-Bảo.

Nên đều bỏ cõi đẹp.

Cùng với chúng đệ tử

Trời, người, rồng thần thảy

Và các việc cúng dường

Muốn pháp lâu ở đời

Cho nên đến cõi này.

Ta vì các Phật ngồi

Dùng sức thần thông lớn

Dời vô lượng trời người

Làm cho nước thanh tịnh.

Các đức Phật mỗi mỗi

Đều đến dưới cây báu

Như hoa sen trang nghiêm

Nơi ao báu trong sạch

Dưới mỗi cây báu đó

Có tòa báu sư-tử79

Phật xếp bằng ngồi trên

Sáng suốt rất đẹp đẽ

Như giữa đêm tối tăm

Đốt đuốc lớn lửa sáng.

Thân Phật thoảng hương thơm

Bay khắp mười phương nước

Chúng sinh được hương xông

Vui mừng không kể xiết

Thí như luồng gió lớn

Thổi lay nhánh cây nhỏ

Dùng cách phương tiện đó

Làm cho Pháp ở lâu.

7.-Nói cùng hàng đại chúng

Sau khi Ta diệt độ

Ai có thể hộ trì

Đọc nói kinh Pháp này

Thời nay ở trước Phật

Nên tự phát lời thệ.

Coi Phật Đa-Bảo kia

Dầu đã diệt từ lâu

Do bản thệ nguyện rộng

Mà còn rền tiếng lớn.

Đức Đa-Bảo Như-Lai

Và cùng với thân Ta

Nhóm họp các hóa Phật

Phải nên biết ý này.

Các hàng Phật tử thảy

Ai có thể hộ pháp

Nay nên phát nguyện lớn

Khiến pháp ở đời lâu

Có ai hay hộ được

Kinh Diệu-Pháp-Hoa này

Thời là đã cúng dường

Thích-Ca cùng Đa-Bảo.

Đức Đa-Bảo Phật đây

Ở trong tháp báu lớn

Thường dạo qua mười phương

Vì để nghe kinh này.

Cũng là để cúng dường

Các hóa Phật đến nhóm

Trang nghiêm rất sáng đẹp

Các thế giới vô lượng.

Nếu người nói kinh này

Thời là đã thấy Ta

Cùng Đa-Bảo Như-Lai

Và các vị hóa Phật.

9.-Các Thiện-nam-tử này

Đều nên suy nghĩ kỹ

Đây là việc rất khó

Phải phát nguyện rộng lớn

Bao nhiêu kinh điển khác

Số nhiều như hằng sa

Dầu nói hết kinh đó

Cũng chưa đủ làm khó,

Hoặc đem núi Diệu-Cao

Ném để ở phương khác

Cách vô số cõi Phật

Cũng chưa lấy làm khó,

Nếu người dùng ngón chân

Động cõi nước Đại-thiên

Ném xa qua cõi khác

Cũng chưa lấy làm khó,

Hoặc đứng trên Hữu-Đảnh

Nói vô lượng kinh khác

Vì để dạy bảo người

Cũng chưa lấy làm khó.

Nếu sau lúc Phật diệt

Người ở trong đời ác

Có thể nói kinh này

Đây thì rất là khó,

Giả sử lại có người

Dùng tay nắm hư không

Để mà khắp dạo đi

Cũng chưa lấy làm khó.

Sau khi Ta diệt độ

Nếu người tự thư trì80

Hoặc bảo người thư trì

Đây thì là rất khó,

Hoặc đem cả cõi đất

Để lên móng ngón chân

Bay lên đến Phạm-Thiên

Cũng chưa lấy làm khó,

Sau khi Phật diệt độ

Người ở trong đời ác

Tạm đọc kinh pháp này

Đây thì mới là khó.

Giả sử gặp kiếp Thiêu81

Gánh mang những cỏ khô

Vào lửa không bị cháy

Cũng chưa lấy làm khó,

Sau khi Ta diệt độ

Nếu người trì kinh này

Vì một người mà nói

Đây thì mới là khó

Hoặc người trì tám muôn

Bốn nghìn các tạng pháp

Đủ mười hai bộ kinh

Vì người mà diễn nói

Khiến các người nghe pháp

Đều được sáu thần thông

Dù được như thế đó

Cũng chưa lấy làm khó

Sau khi Ta diệt độ

Nghe lãnh kinh điển này

Hỏi nghĩa thú trong kinh

Đây thì mới là khó.

Hoặc có người nói pháp

Làm cho nghìn muôn ức

Đến vô lượng vô số

Hằng-hà-sa chúng sinh

Chứng được A-la-hán

Đủ sáu phép thần thông

Dầu có lợi ích đó

Cũng chưa phải là khó,

Sau khi Ta diệt độ

Nếu người hay phụng trì

Những kinh điển như đây

Đây thì là rất khó.

10.- Ta vì hộ Phật đạo

Ở trong vô lượng cõi

Từ thuở trước đến nay

Rộng nói nhiều các kinh

Mà ở trong kinh đó

Kinh này là bậc nhứt

Nếu có người trì được

Thì là trì thân Phật,

Các Thiện-nam-tử này

Sau khi Ta diệt độ

Ai có thể thọ trì

Và đọc tụng kinh này

Thì nay ở trước Phật

Nên tự nói lời thệ.

Kinh pháp đây khó trì

Nếu người tạm trì đó

Thì Ta rất vui mừng

Các đức Phật cũng thế

Người nào được như vậy

Các đức Phật thường khen

Đó là rất dũng mãnh

Đó là rất tinh tấn

Gọi là người trì giới

Bậc tu hạnh Đầu-đà82 •         •

Thời chắc sẽ mau được

Quả vô thượng Phật đạo.

Có thể ở đời sau

Đọc trì kinh pháp này

Là chân thật Phật tử

Trụ ở bậc thuần thiện,

Sau khi Phật diệt độ

Có thể hiểu nghĩa này

Thì là mắt sáng suốt

Của trời người trong đời

Ở trong đời kinh sợ

Hay nói trong chốc lát

Tất cả hàng trời người

Đều nên cúng dường đó.

 

 

Thích Nghĩa

  1. 79.Sư-tử làm chúa loài muông thú, ở trong hàng thú tự tại vô úy. Tòa sư-tử chính là lấy nghĩa tự-tại vô-úy đó.
  2. 82.Biên chép và thọ trì.
  3. 81.Một đại-kiếp có 4 kỳ trung-1 Trung-kiếp thành. 2. Trung-kiếp trụ 3.Trung-kiếp hoại. 4. Trung-kiếp không

-Thành là kết cấu hiện thành thế giới. Trụ là thời kỳ toàn vẹn thế giới hữu tình đều đầy đủ như hiện nay đây vậy. Hoại là hư rã, thế giới hư rã do 3 nguyên nhân: A- Lửa; B- Nước; C- Gió. Trong đây kiếp thiêu chính là thời kỳ lửa cháy tan thế giới. Tan hết là KHÔNG.

  1. 82.Tiếng Phạn, nghĩa là giũ sạch bụi nhơ (đầu tẩu) có 12 hạnh:
  1. 1.Mặc phấn tảo y.
  2. 2.Chỉ ba y không được dư
  3. 3.Thường khất thực.
  4. 4.Ngày một bửa ăn chánh
  5. 5.Ngày một lần ngồi ăn.
  6. 6.Ăn có tiết lượng
  7. 7.Ở chỗ vắng vẻ.
  8. 8.Ngồi trong gò mả
  9. 9.Ngồi dưới bóng cây
  10. 10.Ngồi chỗ trống
  11. 11.Tùy hạp ngồi
  12. 12.Ngồi luôn không nằm.

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “ĐỀ-BÀ-ĐẠT-ĐA” THỨ MƯỜI HAI

1.-Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các vị Bồ- Tát và hàng trời, người, bốn chúng: “Ta ở trong vô lượng kiếp về thời quá khứ cầu kinh Pháp-hoa không có lười mỏi. Trong nhiều kiếp thường làm vị Quốc-vương phát nguyện cầu đạo vô thượng Bồ-đề, lòng không thối chuyển. Vì muốn đầy đủ sáu pháp Ba-la-mật nên siêng làm việc bố thí lòng không lẫn tiếc, bố thí voi, ngựa, bảy báu, nước thành, vợ, con, tôi tớ, bạn bè, cho đến đầu, mắt, tủy, óc, thân, thịt, tay, chân, chẳng tiếc thân mạng. Thuở đó, nhân dân trong đời sống lâu vô lượng, vua vì mến pháp nên thôi bỏ ngôi vua, giao việc trị nước cho Thái-tử. Đánh trống ra lệnh cầu pháp khắp bốn phương: “Ai có thể vì ta nói pháp Đại- thừa, thì ta sẽ trọn đời cung cấp hầu hạ.” Khi ấy có vị tiên nhân đến thưa cùng vua rằng: “Ta có pháp Đại-thừa tên là kinh ‘Diệu-Pháp Liên-Hoa’, nếu Đại- vương không trái ý ta, ta sẽ vì Đại-vương mà tuyên nói.” Vua nghe lời vị tiên nhân nói, vui mừng hớn-hở, liền đi theo vị tiên nhân để cung cấp việc cần dùng: hoặc hái trái, gánh nước, hoặc lượm củi, nấu ăn cho đến dùng thân mình làm giường ghế, thân tâm không biết mỏi. Thuở đó theo phụng thờ vị tiên nhân trải qua một nghìn năm, vì trọng pháp nên siêng năng cung cấp hầu hạ cho tiên nhân không thiếu thốn.

Bấy giờ, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2.-Ta nhớ kiếp quá khứ

Vì cầu pháp Đại-thừa

Dầu làm vị Quốc vương

Chẳng ham vui ngũ dục.

Đánh chuông rao bốn phương

Ai có pháp Đại-thừa

Nếu vì Ta giải nói

Thân sẽ làm tôi tớ.

Giờ có tiên Trường-Thọ

Đến thưa cùng Đại-vương

Ta có pháp nhiệm mầu

Trong đời ít có được

Nếu có thể tu hành

Ta sẽ vì ông nói.

Khi vua nghe tiên nói

Sinh lòng rất vui đẹp

Liền đi theo tiên nhân

Cung cấp đồ cần dùng

Lượm củi và rau trái

Theo lời cung kính dâng

Lòng ham pháp Đại-thừa

Thân tâm không lười mỏi,

Khắp vì các chúng sinh

Siêng cầu pháp mầu lớn

Cũng không vì thân mình

Cùng vui với ngũ dục

Nên dầu làm vua lớn

Siêng cầu được pháp này

Do đó được thành Phật

Nay vẫn vì ông nói.

3.-Phật bảo các Tỳ-kheo rằng: “Thuở ấy, vua đó thời chính là thân Ta, còn tiên nhân đó nay chính là ông Đề-Bà-Đạt-Đa. Do nhờ ông thiện-tri-thức Đề-Bà-Đạt-Đa làm cho Ta đầy đủ sáu pháp Ba-la-mật, từ-bi hỷ-xả, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi món đẹp, thân sắc vàng tía, mười trí lực, bốn món vô-sở-úy, bốn món nhiếp pháp, mười tám món bất cộng, thần thông đạo lực, thành bậc chánh-đẳng chánh-giác rộng độ chúng sinh, tất cả công đức đó đều là nhân thiện-tri-thức Đề-Bà-Đạt-Đa cả.”

4.-Phật bảo hàng tứ chúng: “Qua vô lượng kiếp về sau, ông Đề-Bà-Đạt-Đa sẽ được thành Phật hiệu là Thiên-Vương Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn. Cõi nước đó tên là Thiên-Đạo, lúc Thiên-Vương Phật trụ ở đời hai mươi trung kiếp, rộng vì các chúng sinh mà nói pháp mầu, hằng- hà-sa chúng sinh được quả A-la-hán, vô lượng chúng sinh phát tâm Duyên-giác, hằng-hà-sa chúng sinh phát tâm vô thượng đạo, được vô-sinh-nhẫn đến bậc Bất-thối-chuyển.Sau khi đức Thiên-Vương Phật nhập Niết-bàn, chánh-pháp trụ lại đời hai mươi trung kiếp, toàn thân xá-lợi dựng tháp bằng bảy báu, cao sáu mươi do-tuần. Các hàng trời nhân dân đều đem hoa đẹp, hương bột, hương xoa, hương đốt, y phục, chuỗi ngọc, tràng phan, lọng báu, kỹ nhạc, ca tụng để lễ lạy cúng dường tháp đẹp bằng bảy báu đó. Vô lượng chúng sinh được quả A-la-hán, vô lượng chúng sinh ngộ Bích-chi Phật, bất-khả tư-nghì chúng sinh phát tâm Bồ-đề đến bậc Bất thối- chuyển.” Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện-nam, người thiện-nữ nghe kinh Diệu-Pháp Liên-hoa phẩm Đề- Bà-Đạt-Đa, sinh lòng trong sạch kính tin chẳng sinh nghi lầm, thời chẳng đọa địa- ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh, được sinh ở trước các đức Phật trong mười phương, chỗ người đó sinh ra thường được nghe kinh này. Nếu sinh vào cõi nhân thiên thì hưởng sự vui rất thắng diệu, nếu sinh ở trước Phật thì từ hoa sen hóa sinh.”

5.-Bấy giờ, ở hạ phương vị Bồ-Tát theo hầu đức Đa-Bảo Như-Lai tên là Trí-Tích bạch với đức Đa-Bảo-Phật nên trở về bổn quốc. Đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật bảo Trí- Tích rằng: “Thiện-nam-tử! Chờ giây lát, cõi đây có Bồ-Tát tên Văn-Thù-Sư-Lợi có thể cùng ra mắt nhau luận nói pháp mầu rồi sẽ về bổn độ.” Lúc đó, ngài Văn-Thù-Sư-Lợi ngồi hoa sen nghìn cánh lớn như bánh xe, các vị Bồ-Tát cùng theo cũng ngồi hoa sen báu, từ nơi cung rồng Ta-Kiệt-La trong biển lớn tự nhiên vọt lên trụ trong hư không, đến núi Linh-Thứu, từ trên hoa sen bước xuống đến chỗ Phật, đầu mặt kính lạy chân hai đức Phật, làm lễ xong, qua chỗ Trí-Tích cùng hỏi thăm nhau rồi ngồi một phía. Ngài Trí-Tích Bồ-Tát hỏi ngài Văn- Thù-Sư-Lợi rằng: “Ngài qua cung rồng hóa độ chúng sinh số được bao nhiêu?” Ngài Văn-Thù-Sư-Lợi nói: “Số đó vô lượng không thể tính kể, chẳng phải miệng nói được, chẳng phải tâm lường được, chờ chừng giây lát sẽ tự chứng biết.” Ngài Văn-Thù nói chưa dứt lời, liền có vô số Bồ-Tát ngồi hoa sen báu từ biển vọt lên đến núi Linh-Thứu trụ giữa hư không. Các vị Bồ-Tát này đều là của ngài Văn- Thù-Sư-Lợi hóa độ, đủ hạnh Bồ-Tát đều chung luận nói sáu pháp Ba-la-mật. Những vị mà trước kia là Thanh-văn ở

giữa hư không nói hạnh Thanh-văn nay đều tu-hành “nghĩa không” của Đại-thừa. Ngài Văn-Thù-Sư-Lợi nói với ngài Trí- Tích rằng: “Tôi giáo hóa ở nơi biển việc đó như thế”.

Lúc ấy, ngài Trí-Tích Bồ-Tát nói kệ khen rằng:

Đại trí đức mạnh mẽ •         •

Hóa độ vô lượng chúng

Nay trong hội lớn này

Và tôi đều đã thấy

Diễn nói nghĩa thật tướng

Mở bày pháp nhứt thừa

Rộng độ các chúng sinh

Khiến mau thành Bồ đề.

6.- Ngài Văn-Thù-Sư-Lợi nói: “Ta ở biển chỉ thường tuyên nói kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa.” Ngài Trí-Tích hỏi ngài Văn-Thù-Sư- Lợi rằng: “Kinh này rất sâu vi diệu là báu trong các kinh, trong đời rất ít có vậy có

chúng sinh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này mau được thành Phật chăng?” Ngài Văn-Thù-Sư-Lợi nói: “Có con gái của vua rồng Ta-Kiệt-La mới tám tuổi mà căn tính lanh lẹ, có trí huệ, khéo biết các căn tánh hành nghiệp của chúng sinh, được pháp tổng-trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thọ trì, sâu vào thiền định, rõ thấu các pháp. Trong khoảnh sát-na phát tâm Bồ-đề được bậc Bất-thối-chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sinh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến Bồ-đề.” Trí-Tích Bồ-Tát nói rằng: “Tôi thấy đức Thích-Ca Như-Lai ở trong vô lượng kiếp làm những hạnh khổ khó làm, chứa nhiều công đức để cầu đạo Bồ-đề chưa từng có lúc thôi dứt: Ta xem trong cõi tam-thiên đại-thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hạt cải, mà không phải là chỗ của Bồ-Tát bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sinh, vậy sau mới được thành đạo Bồ-đề, chẳng tin Long-Nữ đó ở trong khoảng giây lát chứng thành bậc Chánh- giác.” Nói luận chưa xong, lúc đó con gái của Long-vương bỗng hiện ra nơi trước đầu mặt lễ kính Phật rồi đứng một phía nói kệ khen rằng: Thấu rõ tướng tội phước Khắp soi cả mười phương Pháp thân tịnh vi diệu Đủ ba mươi hai tướng Dùng tám mươi món tốt Để trang nghiêm pháp thân Trời, người đều kính ngưỡng Long thần thảy cung kính Tất cả loài chúng sinh Không ai chẳng tôn phụng Lại nghe thành Bồ-đề Chỉ Phật nên chứng biết Tôi nói pháp Đại-thừa Độ thoát khổ chúng sinh.

7.- Bấy giờ, ngài Xá-Lợi-Phất nói với Long-Nữ rằng: “Ngươi nói không bao lâu chứng được đạo vô thượng, việc đó khó tin. Vì sao? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể được thành vô- thượng chánh-giác? Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng: Một, chẳng được làm Phạm- thiên-vương; hai, chẳng được làm Đế- Thích; ba, chẳng được làm Ma-vương; bốn, chẳng được làm Chuyển-luân thánh- vương; năm, chẳng được làm Phật. Thế nào thân gái được mau thành Phật?”

Lúc đó, Long-Nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi tam-thiên đại-thiên đem dâng đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long- nữ nói với Trí-Tích Bồ-Tát cùng tôn giả Xá-Lợi-Phất rằng: “Tôi hiến châu báu,

đức Thế-Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?” - Đáp: “Rất mau.” - Long-Nữ nói: “Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó.” Đang lúc đó cả chúng hội đều thấy Long-Nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ-Tát, liền qua cõi Vô-Cấu ở phương Nam, ngồi tòa sen báu thành bậc Đẳng-chánh-giác, đủ ba mươi hai tướng, tám mươi món đẹp, khắp vì tất cả chúng sinh trong mười phương mà diễn nói pháp mầu. Khi ấy trong cõi Ta-bà hàng Bồ-Tát, Thanh-văn, trời, rồng, bát-bộ, nhân cùng phi-nhân đều xa thấy Long-Nữ kia thành Phật khắp vì hàng nhân, thiên trong hội đó mà nói pháp, sinh lòng vui mừng đều xa kính lạy, vô lượng chúng sinh nghe pháp tỏ ngộ được bậc Bất-thối-chuyển, vô lượng chúng sinh được lãnh lời thọ ký thành Phật. Cõi Vô Cấu sáu điệu vang động, cõi Ta-bà ba nghìn chúng sinh trụ bậc Bất-thối, ba nghìn chúng sinh phát lòng Bồ-đề mà được lãnh lời thọ ký. Trí-Tích Bồ-Tát và ngài Xá-Lợi-Phất tất cả trong chúng hội yên lặng mà tin nhận đó.

 

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “TRÌ” THỨ MƯỜI BA

1.-Lúc bấy giờ, ngài Dược-Vương đại Bồ-Tát và ngài Đại-Nhạo-Thuyết Bồ-Tát Ma-ha-tát cùng chung với quyến-thuộc hai muôn vị Bồ-Tát đều ở trước Phật nói lời thệ rằng: “Cúi mong đức Thế-Tôn chớ lo, sau khi Phật diệt độ chúng con sẽ phụng trì đọc tụng nói kinh điển này, đời ác sau, chúng sinh căn lành càng ít, nhiều kẻ tăng-thượng mạn tham lợi dưỡng cúng- dường, thêm lớn căn chẳng lành, xa lìa đạo giải thoát, dầu khó có thể giáo hóa, chúng con sẽ khởi sức nhẫn lớn đọc tụng kinh này, thọ-trì giải nói biên chép, dùng các món cúng dường cho đến chẳng tiếc thân mạng.”

2.-Lúc đó, trong chúng có năm trăm vị A-la-hán đã được thọ ký đồng bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Chúng con cũng tự thệ nguyện ở nơi cõi khác rộng nói kinh này.” Lại có bậc học và vô học tám nghìn người đã được thọ ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay hướng về phía Phật nói lời thệ rằng: “Thế-Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói kinh này. Vì sao? -Vì người trong nước Ta-bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng tăng-thượng-mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, tà vạy tâm không chân thật.”

3.-Khi đó, dì của Phật là Đại-Ái-Đạo Tỳ-kheo-ni cùng chung với bậc “học” và “vô học” Tỳ-kheo-ni sáu nghìn người đồng từ chỗ ngồi đứng dậy chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt chẳng tạm rời.

Bấy giờ, Thế-Tôn bảo Kiều-Đàm-Di: “Cớ chi có sắc buồn mà nhìn Như-Lai, tâm ngươi toan không cho rằng ta chẳng nói đến tên ngươi, để thọ ký thành vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác ư?

Kiều-Đàm-Di! Ta trước tổng nói tất cả Thanh-văn đều đã được thọ-ký , nay ngươi muốn biết thọ ký đó, đời tương lai sau ngươi sẽ ở trong pháp hội của sáu muôn tám nghìn ức đức Phật làm vị đại Pháp-Sư và sáu nghìn vị “học” “vô-học” Tỳ-kheo-ni đều làm Pháp-sư. Ngươi lần lần đủ đạo hạnh Bồ-Tát như thế sẽ được thành Phật hiệu là Nhứt-Thiết Chúng- Sinh Hỷ-Kiến Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện- Thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều- ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn. Kiều-Đàm-Di! Đức Nhứt-Thiết Chúng- Sinh Hỷ-Kiến Phật đó và sáu nghìn Bồ- Tát tuần tự thọ ký được đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Bấy giờ, mẹ của La-Hầu-La là bà Gia- Du-Đà-La Tỳ-kheo-ni nghĩ rằng: “Thế- Tôn ở nơi trong hội thọ ký riêng chẳng nói đến tên tôi.” Phật bảo bà Gia-Du-Đà-La: “Ngươi ở đời sau trong pháp hội của trăm nghìn muôn ức đức Phật, tu hạnh Bồ-Tát, làm vị đại Pháp-sư, lần lần đầy đủ Phật đạo ở trong cõi Thiện-Quốc sẽ được thành Phật hiệu là Cụ-Túc Thiên-Vạn Quang-Tướng Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn. Phật sống lâu vô lượng vô số kiếp.” Lúc đó bà Đại-Ái-Đạo Tỳ-kheo-ni và bà Gia-Du-Đà-La Tỳ-kheo-ni cùng cả quyến thuộc đều rất vui mừng được việc chưa từng có, liền ở trước Phật mà nói kệ rằng:

Đấng Thế-Tôn Đạo-Sư

Làm an ổn trời người

Chúng con nghe thọ ký

Lòng an vui đầy đủ.

Các vị Tỳ-kheo-ni nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng: “Chúng con cũng có thể ở cõi nước phương khác rộng tuyên nói kinh này.”

4.-Bấy giờ, đức Thế-Tôn nhìn tám mươi muôn ức na-do-tha vị đại Bồ-Tát, các vị Bồ-Tát đó đều là bậc bất-thối- chuyển, chuyển-pháp-luân bất-thối được các pháp tổng-trì, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật một lòng chấp tay mà nghĩ rằng: “Nếu đức Thế-Tôn dạy bảo chúng ta nói kinh này, thời chúng ta sẽ như Phật dạy rộng tuyên nói pháp này.”

Các vị đó lại nghĩ: “Nay đức Phật yên lặng chẳng thấy dạy bảo, chúng ta phải làm thế nào?”

Lúc đó, các vị Bồ-Tát kính thuận ý của Phật, và muốn tự thỏa mãn bổn nguyện, bèn ở trước Phật nói lớn tiếng mà phát lời thệ rằng: “Thế-Tôn, sau khi Như-Lai diệt độ, chúng con đi giáp vòng qua lại khắp mười phương thế giới hay khiến chúng sinh biên chép kinh này, thọ trì, đọc tụng, giải nói nghĩa lý, nghĩ nhớ chân chánh,

đúng như pháp mà tu hành, như thế đều là sức oai thần của Phật. Cúi mong đức Thế-Tôn ở phương khác xa giữ gìn cho.”

Tức thời các vị Bồ-Tát đều đồng tiếng mà nói kệ rằng:

5.-Cúi mong Phật chớ lo

Sau khi Phật diệt độ

Trong đời ác ghê sợ

Chúng con sẽ rộng nói.

Có những người vô trí

Lời ác mắng rủa thảy

Và dao gậy đánh đập

Chúng con đều phải nhẫn.

Tỳ-kheo trong đời ác

Trí tà lòng dua vạy

Chưa được nói đã được

Lòng ngã mạn dẫy đầy,

Hoặc người mặc áo nạp

Lặng lẽ ở chỗ vắng

Tự nói tu chân đạo

Khinh rẻ trong nhân gian

Vì ham ưa danh lợi

Nói pháp cho bạch-y

Được người đời cung kính

Như lục thông La-hán

Người đó ôm lòng ác

Thường nghĩ việc thế-tục

Giả danh “A-luyện-nhã”

Ưa nói lỗi chúng con

Mà nói như thế này

Các bọn Tỳ-kheo này

Vì lòng tham lợi dưỡng

Nói luận nghĩa ngoại đạo

Tự làm kinh điển đó

Dối lầm người trong đời

Vì muốn cầu danh tiếng

Mà giải nói kinh đó

Thường ở trong đại chúng

Vì muốn phá chúng con

Đến Quốc-vương, quan lớn

Bà-la-môn, cư-sĩ

Và chúng Tỳ-kheo khác

Chê bai nói xấu con

Đó là người tà kiến

Nói luận nghĩa ngoại đạo

Chúng con vì kính Phật

Đều nhẫn các ác đó

Bị người đó khinh rằng

Các ngươi đều là Phật

Lời khinh mạn dường ấy

Đều sẽ nhẫn thọ đó.

Trong đời ác kiếp trược

Nhiều các sự sợ sệt

Quỷ dữ nhập thân kia

Mắng rủa hủy nhục con

Chúng con kính tin Phật

Sẽ mặc giáp nhẫn nhục

Vì để nói kinh này

Nên nhẫn các việc khó,

Con chẳng mến thân mạng

Chỉ tiếc đạo vô thượng.

Chúng con ở đời sau

Hộ trì lời Phật dặn

Thế-Tôn tự nên biết

Tỳ-kheo đời ác trược

Chẳng biết Phật phương tiện

Tùy cơ nghi nói pháp

Chau mày nói lời ác

Luôn luôn bị xua đuổi

Xa rời nơi chùa tháp

Các điều ác như thế

Nhớ lời Phật dặn bảo

Đều sẽ nhẫn việc đó

Các thành ấp xóm làng

Kia có người cầu pháp

Con đều đến chỗ đó

Nói pháp của Phật dặn.

Con là sứ của Phật

Ở trong chúng không sợ

Con sẽ khéo nói pháp

Xin Phật an lòng ở

Con ở trước Thế-Tôn

Mười phương Phật đến nhóm

Phát lời thệ như thế

Phật tự rõ lòng con.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Quyển thứ tư

Ôm châu đi làm thuê mướn, được chút ít cho là đủ. Nơi cao nguyên đào giếng, chí cầu suối sâu. Tháp báu vọt lên giáo hóa tròn khắp. Nhân cùng quả đồng nói. Pháp mầu ý khẩn cầu.

NAM-MÔ PHÁP-HOA HỘI-THƯỢNG PHẬT BỒ-TÁT. (3 lần)

Năm trăm đệ tử thọ ký chứng quả Phật. Tháp Phật Đa-Bảo vọt ra trước, Ngài Nhạo-Thuyết hỏi căn nguyên. Vì pháp cầu thầy hiền, nghe diễn kinh Diệu-Liên.

NAM-MÔ QUÁ-KHỨ ĐA-BẢO PHẬT.

(3 lần)

 

 

Sự tích Tụng đề kinh Mình và người đều thoát khổ

Quận Phùng-Dực, ông Lý-Sơn-Long làm chức Tả-Giám- Môn Hiệu-úy trong niên hiệu Võ-Đức bị bệnh chết, mà trên ngực khoảng bằng bàn tay không lạnh, người nhà chưa nỡ tẩn liệm. Đến ngày thứ bảy sống lại thuật rằng: “Đang lúc chết bị người bắt dẫn đến một dinh quan rất hùng tráng rộng lớn. Trong sân có bọn tù vài nghìn người, hoặc mang gông, hoặc xiềng xích đều đứng xây mặt về hướng Bắc, chật cả sân.”

Quân hầu dắt Sơn-Long đến dưới dinh. Có một vị Thiên- Quan ngồi giường cao kẻ hầu hạ nghi vệ như hàng vua chúa. Sơn-Long hỏi quân hầu: “Quan nào đó?” - Quân hầu đáp: “Vua đấy”. Sơn-Long đến dưới thềm - Vua hỏi: “Người thuở sinh bình làm phước nghiệp gì?” Sơn-Long thưa: “Mỗi lần người trong làng thiết lập trai đàn giảng kinh tôi thường thí của vật đồng với người.” - Vua lại hỏi: “Còn tự thân ngươi làm phước nghiệp gì?” Sơn-Long thưa: “Tôi tụng thuộc kinh Pháp-Hoa hai quyển.” - Vua nói: “Rất hay! Được lên thềm.” Ông Sơn-Long đã lên trên nhà thấy phía Đông- Bắc có một tòa cao giống như tòa diễn giảng. Vua chỉ tòa nói với Sơn-Long rằng: “Nên lên tòa này tụng kinh.” Sơn- Long vâng lệnh đến bên tòa. Vua liền đứng dậy nói: “Thỉnh ngài Pháp-sư lên tòa.” Sơn-Long lên tòa xong. Vua liền xây về phía tòa mà ngồi. Sơn-Long khai kinh tụng rằng: “Diệu- Pháp Liên-Hoa kinh, phẩm Tự đệ nhất.” - Vua nói “Thỉnh

Pháp-sư thôi.” Sơn-Long liền thôi, xuống tòa lại đứng dưới thềm đoái xem trong sân, bọn tù nhân vừa rồi không còn một người. Vua bảo Sơn-Long rằng: “Phúc đức tụng kinh của ông chẳng những là tự lợi, nhẫn đến làm cho bọn tù trong sân nhân nghe đề kinh Pháp-Hoa mà đều được thoát khổ, há chẳng hay lắm thay! Nay tha ngươi trở về.”

Sơn-Long lạy từ. Đi được vài mươi bước, vua kêu trở lại rồi bảo quân hầu: “Nên dắt người này đi xem các ngục.”

Quân hầu liền dắt Sơn-Long đi qua phía Đông hơn trăm bước thấy một thành bằng sắt rất rộng lớn, trên có mái trùm kín. Quanh thành có nhiều lỗ nhỏ, thấy các nam nữ từ dưới đất bay vào trong lỗ liền chẳng trở ra. Sơn-Long lấy làm lạ hỏi quân hầu, thì được đáp: “Đây là đại địa-ngục, trong đó nhiều lớp phân cách theo tội riêng khác. Các người đó đều theo nghiệp dữ của mình đã tạo. Vào ngục chịu khổ.” Sơn- Long nghe nói xong buồn sợ xưng “Nam-mô Phật” xin quân hầu dắt ra. Đến cửa viện thấy một vạc lớn lửa mạnh nước sôi, bên vạc có hai người ngồi ngủ. Sơn-Long hỏi đó - Hai người đáp: “Tôi bị tội báo vào vạc nước sôi này. Nhờ Hiền- giả xưng Nam-mô Phật cho nên các người tội trong ngục đều được một ngày nghỉ mệt nên chúng tôi ngủ.” Sơn-Long lại xưng “Nam-mô Phật”.

Quân hầu đưa Sơn-Long về nhà, thấy hàng thân thuộc đương khóc, sắm sửa những đồ tẩn liệm. Sơn-Long vào đến bên thây thời liền sống lại.

Chuyện trên đây là chính ông Lý-Sơn-Long nói với chủ chùa Tổng-Trì. Chủ chùa thuật lại với tôi.

(Rút trong bộ “Minh-bảo-ký”)

“Nhiệm-mầu thay kinh Pháp-Hoa!” Người tụng trì được công đức, ngoài Phật ra không ai có thể nghĩ lường được. Đọa địa-ngục, vì tội nghiệp nặng, lên tòa vừa khai tụng đề kinh mà cả mấy ngàn tù nhân dưới sân đều thoát khổ. Thoát khổ là bởi tội nghiệp tiêu. Tội nghiệp nặng mà tức khắc tiêu tan, nếu không phải công đức rộng lớn quyết không thể được nghe đề kinh Pháp-Hoa mà công đức còn lớn dường ấy, huống là người trì tụng đề kinh, huống là người trì tụng một phẩm, một quyển đến toàn bộ, nhẫn đến người giải nói, biên chép ấn tống. Ông Sơn-Long được thoát ngục, được vua trọng, được quân hầu kính, phải chăng là do oai lực của kinh Pháp-Hoa. Ta đối với kinh Pháp-Hoa, thật nên chí thành đảnh đới, thọ trì, đọc tụng, giải nói, in ấn, nếu ta có chí tự thoát khổ và thoát khổ cho người.

 

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Quyển Thứ Năm

Đời Diêu-Tần, Ngài Tam-Tạng Pháp-Sư Cưu-Ma-La-Thập phụng chiếu dịch.

PHẨM “AN LẠC HẠNH” THỨ MƯỜI BỐN

1.-Lúc bấy giờ, ngài Văn-Thù-Sư-Lợi Đại Bồ-Tát bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Các vị Bồ-Tát này rất là ít có, vì kính thuận Phật nên phát thệ-nguyện lớn: ở nơi đời ác sau, hộ-trì đọc nói kinh Pháp-Hoa này.”

“Thế-Tôn! Các vị đại Bồ-Tát ở đời ác sau, thế nào mà có thể nói kinh này?”

Phật bảo ngài Văn-Thù-Sư-Lợi: “Nếu vị Bồ-Tát ở đời ác sau muốn nói kinh này, phải an-trụ trong bốn pháp:

2.-Một, an-trụ nơi “hành xứ” và nơi “thân-cận-xứ” của Bồ-Tát, thì có thể vì chúng sinh mà diễn nói kinh này. Văn- Thù-Sư-Lợi! Thế nào gọi là chỗ “Hành- xứ” của đại Bồ-Tát? Nếu vị đại Bồ-Tát an trụ trong nhẫn-nhục hòa-dịu khéo thuận mà không vụt-chạc, lòng cũng chẳng kinh sợ, lại ở nơi pháp không phân-biệt mà quán tưởng như thật của các pháp83 cũng chẳng vin theo, chẳng phân-biệt, đó gọi là chỗ “hành-xứ” của Bồ-Tát. Thế nào gọi là chỗ “thân-cận xứ” của đại Bồ-Tát? - Vị đại Bồ-Tát chẳng gần gũi Quốc-vương, Vương-tử, Đại-thần, Quan- trưởng, chẳng gần-gũi ngoại-đạo Phạm- chí, Ni-kiền-tử84, v.v... và chẳng gần những kẻ viết sách thế tục ca ngâm; sách ngoại- đạo cùng với phái “Lộ-già-da-đà” phái “Nghịch-lộ-già-da-đà”85, cũng chẳng gần gũi những kẻ chơi hung-hiểm đâm nhau, đánh nhau, và bọn na-la86 v.v... bày các cuộc chơi biến-hiện. Lại chẳng gần-gũi bọn hàng thịt và kẻ nuôi heo, dê, gà, chó, săn-bắn chài lưới, hạng người sống với nghề ác, những người như thế hoặc có lúc lại đến thời. Bồ-Tát vì nói pháp không có lòng mong cầu. Lại chẳng gần-gũi những Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, hạng người cầu quả Thanh-Văn, hoặc ở trong phòng, hoặc chỗ kinh-hành, hoặc ở trong giảng- đường chẳng cùng ở chung, hoặc có lúc những người đó lại đến, Bồ-Tát theo cơ- nghi nói pháp không lòng mong cầu. Văn-Thù-Sư-Lợi! Lại vị đại Bồ-Tát chẳng nên ở nơi thân người nữ cho là tướng có thể sinh tư-tưởng dục nhiễm mà vì nói pháp, cũng chẳng ưa thấy. Nếu vào nhà người chẳng cùng với gái nhỏ, gái trinh, gái góa, v.v..., chung nói chuyện, cũng lại chẳng gần năm giống người bất- nam87 để làm thân hậu. Chẳng riêng mình vào nhà người, nếu lúc có nhân-duyên cần riêng mình vào thì chuyên một lòng niệm Phật. Nếu vì người nữ nói pháp thì chẳng hở răng cười, chẳng bày hông, ngực, nhẫn đến vì pháp mà còn chẳng thân-hậu, huống lại là việc khác. Chẳng ưa nuôi đệ-tử Sa-di ít tuổi và các trẻ nhỏ, cũng chẳng ưa cùng chúng nó đồng một thầy. Thường ưa ngồi Thiền ở chỗ vắng tu nhiếp tâm mình.

Văn-Thù-Sư-Lợi! Đó gọi là “chỗ thân- cận” ban đầu.

3.-Lại nữa, vị đại Bồ-Tát quán sát “Nhất-thiết pháp không như thật tướng” chẳng điên-đảo, chẳng động, chẳng thối, chẳng chuyển, như hư-không, không có thật-tánh, tất cả lời nói phô dứt, chẳng sinh, chẳng xuất, chẳng khởi, không danh, không tướng, thực không chỗ có, không lường, không ngằn, không ngại, không

chướng, chỉ do nhân-duyên mà có, từ điên-đảo mà sinh cho nên nói, thường ưa quán-sát pháp-tướng như thế đó gọi là “chỗ thân-cận” thứ hai của vị Đại Bồ-Tát.

Lúc đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

5.-Nếu có vị Bồ-Tát

Ở trong đời ác sau

Lòng không hề sợ-sệt

Muốn nói kinh pháp này

Nên trụ vào “hành-xứ”

Và trụ “thân-cận-xứ”. •   •

Thường xa rời Quốc-vương

Và con của Quốc-vương

Quan đại-thần, quan lớn

Kẻ chơi việc hung-hiểm

Cùng bọn chiên-đà-la88

Hàng ngoại đạo Phạm-chí

Cùng chẳng ưa gần-gũi

Hạng người Tăng-thượng-mạn

Hàng học giả tham chấp

Kinh, luật, luận tiểu-thừa

Những Tỳ-kheo phá giới

Danh tự A-la-hán

Và những Tỳ-kheo-ni

Ưa thích chơi giỡn cười

Các vị Ưu-bà-di

Tham mê năm món dục

Cầu hiện-tại diệt-độ

Đều chớ có gần-gũi.

Nếu những hạng người đó

Dùng tâm tốt mà đến

Tại chỗ của Bồ-Tát

Để vì nghe Phật-đạo.

Bồ-Tát thời nên dùng

Lòng không chút sợ-sệt

Chẳng có niệm mong cầu

Mà vì chúng nói pháp.

Những gái hóa, gái trinh

Và các kẻ bất-nam

Đều chớ có gần gũi

Để cùng làm thân-hậu.

Cũng chớ nên gần-gũi

Kẻ đồ-tể cắt thái

Săn bắn và chài lưới

Vì lợi mà giết hại

Bán thịt để tự sống

Buôn bán sắc gái đẹp

Những người như thế đó

Đều chớ có gần-gũi.

Các cuộc chơi giỡn dữ

Hung-hiễm đâm đánh nhau

Và những dâm nữ thảy

Trọn chớ có gần-gũi.

Chớ nên riêng chỗ khuất

Vì người nữ nói pháp

Nếu lúc vì nói pháp

Chẳng được chơi giỡn cười

Khi vào xóm khất thực

Phải dắt một Tỳ-kheo

Nếu không có Tỳ-kheo

Phải một lòng niệm Phật

Đây thời gọi tên là “Hành-xứ”, “thân-cận-xứ”.

Dùng hai xứ trên đây

Có thể an-lạc nói.

Lại cũng chẳng vịn theo

Pháp thượng, trung và hạ

Hữu-vi hay vô-vi

Thực cùng pháp chẳng thực

Cũng chẳng có phân-biệt

Là nam là nữ thảy

Lại chẳng được các pháp

Chẳng biết cũng chẳng thấy

Đây thời gọi tên là “Hành-xứ” của Bồ-Tát.

Tất cả các món pháp

Đều không, chẳng chỗ có

Không có chút thường-trụ

Vẫn cũng không khởi diệt

Đây gọi là “thân-cận”

Chỗ người trí hằng nương.

Chớ đảo-điên phân-biệt

Các pháp có hoặc không

Là thực, chẳng phải thực

Là sinh chẳng phải sinh,

Ở an nơi vắng-vẻ

Sửa trao nhiếp tâm mình

An-trụ chẳng lay động

Như thể núi Tu-Di

Quán-sát tất cả pháp

Thảy đều không thực có

Dường như khoảng hư-không

Không có chút bền chắc.

Chẳng sinh cũng chẳng xuất

Chẳng động cũng chẳng thối

Thường-trụ một tướng-thể

Đó gọi là “cận-xứ”.

Nếu có vị Tỳ-kheo

Sau khi ta diệt độ

Vào được “hành-xứ” này

Và “thân-cận-xứ” đó

Thời lúc nói kinh này

Không có lòng e sợ

Vị Bồ-Tát có lúc

Vào nơi nhà tịnh-thất

Lòng nghĩ nhớ chân chánh

Theo đúng nghĩa quán pháp.

Từ trong thiền-định dậy

Vì các bậc Quốc-vương

Vương-tử và quan, dân

Hàng Bà-la-môn thảy

Mà khai-hóa diễn-bày

Rộng nói kinh điển này

Tâm vị đó an-ổn

Không có chút khiếp-nhược.

Văn-Thù-Sư-Lợi này!

Đó gọi là Bồ-Tát

An-trụ trong sơ-pháp

Có thể ở đời sau

Diễn nói kinh Pháp-Hoa.

5.-Lại Văn-Thù Sư-Lợi! Sau khi đức Như-Lai diệt-độ, ở trong đời mạt-pháp muốn nói kinh này, phải trụ nơi hạnh an- lạc, hoặc miệng tuyên nói hoặc lúc đọc kinh đều chẳng ưa nói lỗi của người và của kinh điển; chẳng khinh mạn các Pháp sư khác, chẳng nói việc hay dở, tốt xấu của người khác. Ở nơi hàng Thanh-văn cũng chẳng kêu tên nói lỗi quấy của người đó, cũng chẳng kêu tên khen-ngợi điều tốt của người đó. Lại cũng chẳng sinh lòng oán hiềm, vì khéo tu lòng an-lạc như thế, nên những người nghe pháp không trái ý. Có chỗ gạn hỏi, chẳng dùng pháp tiểu-thừa đáp, chỉ dùng pháp đại-thừa mà vì đó giải nói làm cho được bậc “Nhất-thiết chủng-trí”.

Khi ấy, Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6.-Vị Bồ-Tát thường ưa

An-ổn nói kinh pháp

Ở nơi chỗ thanh-tịnh

Mà sắp đặt sàng tòa

Dùng hương dầu xoa thân

Tắm gội các bụi dơ

Mặc y mới sạch-sẽ

Trong ngoài đều sạch thơm

Ngồi an nơi pháp-tòa

Theo chỗ hỏi vì nói.

Nếu có vị Tỳ kheo

Cùng với Tỳ-kheo-ni

Các hàng Ưu-bà-tắc

Và hàng Ưu-bà-di

Quốc-vương và vương-tử,

Các quan cùng sĩ-dân

Dùng pháp nghĩa nhiệm-mầu

Vui-vẻ vì họ nói

Nếu có người gạn hỏi

Theo đúng nghĩa mà đáp

Nhân-duyên hoặc thí-dụ

Giải-bày phân-biệt nói

Dùng trí phương-tiện này

Đều khiến kia phát tâm

Lần lần thêm đông nhiều

Vào ở trong Phật-đạo.

Trừ lòng lười biếng trễ

Cùng với tưởng giải-đãi

Xa rời các ưu-não

Tâm từ lành nói pháp

Ngày đêm thường tuyên nói

Giáo-pháp vô-thượng đạo

Dùng các việc nhân-duyên

Vô-lượng món thí-dụ

Mở bày dạy chúng-sinh

Đều khiến chúng vui mừng

Y-phục cùng đồ nằm

Đồ ăn uống thuốc thang

Mà ở nơi trong đó

Không có chỗ mong cầu

Chỉ chuyên một lòng nhớ

Nhân-duyên nói kinh pháp

Nguyện ta thành Phật-đạo

Khiến mọi người cũng vậy

Đó là lợi lành lớn

Là an-vui cúng dường.

Sau khi ta diệt-độ

Nếu có vị Tỳ-kheo

Có thể diễn nói được

Kinh Diệu-Pháp-Hoa này

Lòng không chút ghen hờn

Không các não chướng-ngại

Cũng lại không ưu-sầu

Và cùng mắng nhiếc thảy

Lại cũng không sợ-sệt

Không dao gậy đánh đập

Cũng không xua-đuổi ra

Vì an-trụ nhẫn vậy.

Người trí khéo tu-tập

Tâm mình được dường ấy

Thời hay trụ an-lạc

Như ta nói ở trên

Công-đức của người đó

Trong nghìn muôn ức kiếp

Tính kể hay thí-dụ

Nói chẳng thể hết được.

7.-Lại Văn-Thù-Sư-Lợi! Vị đại Bồ-Tát ở đời rốt sau lúc pháp gần diệt mà thụ-trì đọc-tụng kinh-điển này, chớ ôm lòng ghen-ghét dua-dối, cũng chớ khinh mắng người học Phật đạo, vạch tìm chỗ hay dở

của kia. Nếu hàng Tỳ kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, hoặc cầu Thanh-Văn, hoặc cầu Duyên-giác, hoặc cầu Bồ-Tát đạo, đều không được làm não đó, khiến cho kia sinh lòng nghi-hối mà nói với người đó rằng: “Các người cách đạo rất xa, trọn không thể được bậc Nhứt-thiết chủng-trí.” Vì sao? “Vì các người là kẻ buông-lung, biếng trễ đối với đạo.” Lại cũng chẳng nên hí-luận các pháp có chỗ tranh cãi. Phải ở nơi tất cả chúng-sinh, khởi tưởng đại-bi, đối với các đức Như-Lai sinh tưởng như cha lành, đối với các Bồ-Tát, tưởng là bậc Đại-sư, với các Đại Bồ-Tát ở mười- phương phải thâm tâm lễ lạy, với tất-cả chúng-sinh đều bình- đẳng nói pháp. Vì thuận theo pháp nên chẳng nói nhiều, chẳng nói ít, nhẫn đến người rất ưa pháp cũng chẳng vì nói nhiều. Văn-Thù-Sư-Lợi! Vị đại Bồ-Tát ở đời rốt sau lúc pháp muốn diệt, nếu thành tựu được hạnh an-lạc thứ ba đây, thì lúc nói pháp này không ai có thể não loạn được bạn đồng học tốt chung cùng đọc tụng kinh này, cũng được đại-chúng thường đến nghe thọ. Nghe rồi hay nhớ, nhớ rồi hay tụng, tụng rồi hay nói, nói rồi hay chép, hoặc bảo người chép, cúng dường kinh quyển cung-kính tôn trọng ngợi khen. Lúc bấy giờ, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8.-Nếu muốn nói kinh này

Phải bỏ lòng ghen hờn

Ngạo dua-dối tà-ngụy

Thường tu hạnh chất trực

Chẳng nên khinh miệt người

Cũng chẳng hí-luận pháp

Chẳng khiến kia nghi-hối

Rằng ngươi chẳng thành Phật,

Phật-tử đó nói pháp

Thường nhu-hòa hay nhẫn

Từ-bi với tất cả

Chúng-sinh lòng biếng trễ

Bồ-Tát lớn mười-phương

Thương chúng nên hành đạo

Phải sinh lòng cung-kính

Đó là Đại-sư ta,

Với các Phật Thế-Tôn

Tưởng là cha vô-thượng,

Phá nơi lòng kiêu-mạn

Nói pháp không chướng-ngại

Pháp thứ ba như thế

Người trí phải giữ-gìn

Một lòng an-lạc hạnh

Vô-lượng chúng cung-kính.

9.-Lại Văn-Thù-Sư-Lợi! Các vị đại Bồ-Tát ở đời rốt sau lúc pháp gần diệt có vị nào trì kinh Pháp-Hoa này ở trong hàng người tại-gia, xuất-gia sinh lòng từ lớn, ở trong hạng người chẳng phải Bồ-Tát sinh lòng bi lớn, phải nghĩ thế này: Những người như thế thì là mất lợi lớn. Đức Như- Lai phương-tiện tùy-nghi nói pháp chẳng nghe, chẳng biết, chẳng hay, chẳng hiểu, chẳng tin, chẳng hỏi. Người đó dầu chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng hiểu kinh này, lúc ta được vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, người đó tùy ở chỗ nào, ta dùng sức thần-

thông, sức trí-huệ dẫn dắt đó khiến được trụ trong pháp này. Văn-Thù-Sư-Lợi! Vị đại Bồ-Tát đó ở sau lúc Như-Lai diệt-độ nếu thành-tựu được pháp thứ tư này thời lúc nói pháp này không có lầm-lỗi, thường được hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Quốc-vương, Vương-tử, Đại-thần, nhân- dân Bà-la-môn, cư-sĩ thảy cúng dường cung-kính tôn-trọng ngợi-khen, hàng chư Thiên ở trên hư-không vì nghe pháp cũng thường theo hầu. Nếu ở trong xóm làng thành ấp, rừng cây vắng-vẻ, có người đến muốn gạn hỏi, hàng chư Thiên ngày đêm thường vì pháp mà hộ vệ đó, có thể khiến người nghe đều được vui mừng. Vì sao? Vì kinh này được sức thần của tất cả đức Phật thuở quá-khứ, vị-lai, hiện- tại giữ-gìn vậy. Văn-Thù-Sư-Lợi! Kinh Pháp-Hoa này ở trong vô-lượng cõi nước, nhẫn đến danh-tự còn chẳng được nghe, hà-huống là được thấy thọ-trì, đọc tụng. Văn-Thù-Sư-Lợi! Thí như vua Chuyển Luân Thánh Vương 89 sức lực mạnh-mẽ muốn dùng uy-thế hàng phục các nước, mà các vua nhỏ chẳng thuận mệnh-lệnh, bấy giờ Chuyển-luân-thánh-vương đem các đạo binh ra đánh dẹp, vua thấy binh chúng những người đánh giặc có công, liền rất vui mừng theo công mà thưởng ban. Hoặc ban cho ruộng, nhà, xóm, làng, thành, ấp, hoặc ban cho đồ y-phục trang- nghiêm nơi thân, hoặc cho các món trân- bảo, vàng, bạc, lưu-ly, xa-cừ, mã-não, san- hô, hổ-phách, voi, ngựa, xe, cộ, tôi-tớ, nhân-dân, chỉ viên minh-châu trong búi tóc chẳng đem cho đó. Vì sao? Vì riêng trên đỉnh vua có một viên châu này, nếu đem cho đó thời các quyến-thuộc của vua ắt rất kinh lạ. Văn-Thù-Sư-Lợi! Như-Lai cũng như thế, dùng sức thiền-định trí-huệ được cõi nước pháp, giáo-hóa trong ba cõi mà ma- vương chẳng khứng thuận-phục, các tướng hiền thánh của Như-Lai cùng ma đánh nhau. Những người có công lòng cũng vui mừng, ở trong hàng chúng vì nói các kinh khiến tâm kia vui thích, ban cho các pháp thiền-định, giải-thoát, vô-lậu căn-lực. Và lại ban cho thành Niết-Bàn, bảo rằng được diệt-độ để dẫn dắt lòng chúng làm cho đều được vui mừng, mà chẳng vì đó nói kinh Pháp-Hoa này.

Văn-Thù-Sư-Lợi! Như vua Chuyển- Luân thấy các binh chúng những người có công lớn, đem viên minh-châu khó tin từ lâu ở trong búi tóc chẳng vọng cho người, mà nay cho đó.

Đức Như-Lai cũng lại như thế, làm vị đại Pháp-vương trong ba cõi, đem pháp mầu giáo-hóa tất cả chúng-sinh. Thấy quân hiền-thánh cùng ma ngũ-ấm, ma phiền-não90, ma chết, đánh nhau có công lao lớn, diệt ba độc, khỏi ba cõi, phá lưới ma. Lúc ấy Như-Lai cũng rất vui mừng, kinh Pháp-hoa này có thể khiến chúng- sinh đến bậc “Nhứt-thiết-trí” là pháp mà tất cả thế gian nhiều oán-ghét, khó tin, trước chưa từng nói mà nay nói đó.

Văn-Thù-Sư-Lợi! Kinh Pháp-Hoa này là lời nói bậc nhất của Như-Lai, ở trong các lời nói thời là rất sâu, rốt sau mới ban cho, như vua sức mạnh kia lâu giữ gìn viên minh-châu mà nay mới cho đó.

Văn-Thù-Sư-Lợi! Kinh Pháp-Hoa này là tạng bí-mật của các đức Phật Như-Lai, ở trong các kinh thời là bậc trên hết, lâu ngày giữ-gìn chẳng vọng tuyên nói, mới ở ngày nay cùng với các ông mà bày nói đó.

Lúc đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

10.-Thường tu-hành nhẫn-nhục

Thương xót tất cả chúng

Mới có thể diễn nói

Kinh của Phật khen ngợi.

Đời mạt-thế về sau

Người thọ-trì kinh này

Với tại-gia, xuất-gia

Và chẳng phải Bồ-Tát,

Nên sinh lòng từ-bi

Những người đó chẳng nghe

Chẳng tin kinh pháp này

Thời là mất lợi lớn

Khi ta chứng Phật-đạo

Dùng các sức phương-tiện

Vì nói kinh pháp này

Làm cho trụ trong đó.

Thí như vua Chuyển-Luân

Thánh-vương có sức mạnh

Binh tướng đánh có công

Thưởng ban những đồ vật

Voi, ngựa và xe-cộ

Đồ trang-nghiêm nơi thân,

Và những ruộng cùng nhà

Xóm làng thành ấp thảy

Hoặc ban cho y-phục

Các món trân báu lạ

Tôi-tớ cùng của cải

Đều vui mừng ban cho,

Nếu có người mạnh-mẽ

Hay làm được việc khó

Vua mới mở búi tóc

Lấy minh-châu cho đó.

Đức Như-Lai cũng thế

Là vua trong các pháp

Nhẫn-nhục sức rất lớn

Tạng báu trí-huệ sáng

Dùng lòng từ-bi lớn

Đúng như pháp độ-đời

Thấy tất cả mọi người

Chịu các điều khổ-não

Muốn cầu được giải-thoát

Cùng các ma đánh nhau

Phật vì chúng-sinh đó

Nói các món kinh pháp

Dùng sức phương-tiện lớn

Nói các kinh điển đó,

Đã biết loài chúng-sinh

Được sức mạnh kia rồi

Rốt sau mới vì chúng

Nói kinh Pháp-Hoa này

Như vua thánh mở tóc

Lấy minh-châu cho đó.

Kinh này là bậc tôn

Trên hết trong các kinh

Ta thường giữ-gìn luôn

Chẳng vọng vì mở bày

Nay chính đã phải lúc

Vì các ông mà nói.

Sau khi ta diệt-độ

Người mong cầu Phật-đạo

Muốn được trụ an-ổn

Diễn nói kinh pháp này

Phải nên thường gần-gũi

Bốn pháp trên như thế.

Người đọc tụng kinh này

Thường không bị ưu-não

Lại không có bệnh đau

Nhan-sắc được trắng sạch

Chẳng sinh nhà bần-cùng

Dòng ti-tiện xấu-xa

Chúng-sinh thường ưa thấy.

Như ham-mộ hiền-thánh

Các đồng-tử cõi trời

Dùng làm kẻ sai khiến

Dao gậy chẳng đến được

Độc dữ chẳng hại được

Nếu người muốn mắng-nhiếc

Miệng thì liền ngậm bít

Dạo đi không sợ-sệt

Dường như sư-tử vương

Trí-huệ rất sáng-suốt

Như mặt trời chói sáng.

Nếu ở trong chiêm-bao

Chỉ thấy những việc tốt

Thấy các đức Như-Lai

Ngồi trên tòa sư-tử

Các hàng chúng Tỳ kheo

Vây quanh nghe nói pháp.

Lại thấy các long-thần

Cùng A-tu-la thảy

Số như cát sông Hằng

Đều cung-kính chắp tay

Tự ngó thấy thân mình

Mà vì chúng nói pháp.

Lại thấy các đức Phật

Thân tướng thuần sắc vàng

Phóng vô-lượng hào-quang

Soi khắp đến tất cả

Dùng giọng tiếng Phạm-âm

Mà diễn nói các pháp

Phật vì hàng tứ-chúng

Nói kinh pháp vô-thượng

Thấy thân mình ở trong

Chắp tay khen-ngợi Phật

Nghe pháp lòng vui mừng

Mà vì cúng-dường Phật

Được pháp Đà-la-ni

Chứng bậc bất-thối-trí,

Phật biết tâm người đó

Đã sâu vào Phật-đạo

Liền vì thọ-ký cho

Sẽ thành tối Chánh-giác.

Thiện-nam-tử người này!

Sẽ ở đời vị-lai

Chứng được vô-lượng trí

Nên đạo lớn của Phật,

Cõi nước rất nghiêm tịnh

Rộng lớn không đâu bằng

Cũng có hàng tứ-chúng

Chấp tay nghe nói pháp.

Lại thấy thân của mình

Ở trong rừng núi vắng

Tu-tập các pháp lành

Chứng thực-tướng các pháp

Sâu vào trong thiền-định

Thấy các Phật mười-phương

Các Phật thân sắc vàng

Trăm phước tướng trang-nghiêm

Nghe pháp vì người nói

Thường có mộng tốt đó.

Lại mộng làm quốc-vương

Bỏ cung-điện quyến-thuộc

Và ngũ-dục thượng diệu

Đi đến nơi đạo-tràng

Ở dưới gốc Bồ-Đề

Mà ngồi tòa sư-tử

Cầu đạo quá bảy ngày

Được trí của các Phật

Thành đạo vô-thượng rồi

Dậy mà Chuyển pháp-luân

Vì bốn-chúng nói pháp

Trải nghìn muôn ức kiếp

Nói pháp mầu vô-lậu

Độ vô-lượng chúng-sinh

Sau sẽ vào Niết-bàn

Như khói hết đèn tắt.

Nếu trong đời ác sau

Nói pháp bậc nhất này

Người đó được lợi lớn

Các công-đức như trên.

 

Thích Nghĩa

  1. 83. Rồi tất cả tướng: Có không v.v... gọi là “thật tướng” (tướng chân thật), vì tất cả tướng: có, không v.v... đều là hư dối cả.
  2. 84. Ni-kiền-tử: Lõa hình ngoại đạo (đạo ở trần truồng) cũng gọi là “Vô tâm ngoại đạo” (đạo không biết hổ thẹn).
  3. 85. Lộ-già-da-đà: Phái thuận thế ngoại đạo (đạo thuận theo thế tục). Nghịch lộ-già-da-đà: Phái trái nghịch với thuận thế ngoại đạo (đạo chống trái với thuận thế ngoại đạo).
  4. 86. Kẻ múa hát.
  5. 87. Chẳng phải thật đàn ông, như người lại cái, kẻ không nam căn v.v...
  6. 88. Kẻ đồ tể, quân đao phủ.
  7. 89. Có bốn:
  1. 1.- Thiết-luân-vương (cai trị 1 châu thiên hạ)
  2. 2.- Đồng-luân-vương (cai trị 2 châu thiên hạ).
  3. 3.- Ngân-luân-vương (cai trị 3 châu thiên hạ).
  4. 4.- Kim-luân-vương (cai trị 4 châu thiên hạ)

Vì phước nghiệp đời trước nên khi lên ngôi vua, có xe báu tự nhiên, hoặc bằng sắt, đồng, bạc, vàng hiện ra. Vua dùng xe đó mà đi tuần hay dẹp giặc trong cõi mình cai trị nên gọi là “Chuyển-luân-thánh-vương”.

  1. 90.Sắc, thọ, tưởng, hành, thức ấm hay khổ hại nên gọi là ma. Các lòng tham, sân, dục, nghi v.v... thường làm rối rắm, phiền muộn rất khổ hại nên gọi là ma.
 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT” THỨ MƯỜI LĂM

1.-Lúc bấy giờ, các vị đại Bồ-Tát ở cõi nước phương khác đông hơn số cát của tám sông Hằng, ở trong đại-chúng đứng dậy chắp tay làm lễ mà bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Nếu bằng lòng cho chúng con lúc sau khi Phật diệt-độ ở tại cõi Ta-Bà này siêng tu tinh tấn, giữ-gìn đọc-tụng, biên chép, cúng dường kinh-điển này, thời chúng con sẽ ở trong cõi đây mà rộng nói đó.”

Khi đó Phật bảo các chúng đại Bồ-Tát: “Thiện nam-tử! Thôi đi chẳng cần các ông hộ-trì kinh này. Vì sao? Vì cõi Ta-bà của Ta tự có chúng đại Bồ-Tát số đông bằng số cát của sáu muôn sông Hằng. Mỗi vị Bồ- Tát có sáu muôn hằng-hà-sa quyến-thuộc, những người đó có thể sau khi ta diệt-độ hộ-trì, đọc tụng rộng nói kinh này.”

2.- Lúc Phật nói lời đó, cõi Ta-Bà trong tam-thiên đại-thiên cõi nước đất đều rúng nứt, mà ở trong đó có vô-lượng nghìn muôn ức vị đại Bồ-Tát đồng thời vọt ra. Các vị Bồ-Tát đó thân đều sắc vàng, đủ ba mươi hai tướng tốt cùng vô-lượng ánh- sáng, trước đây đều ở dưới cõi Ta-Bà này, cõi đó trụ giữa hư-không. Các vị Bồ-Tát đó nghe tiếng nói của đức Thích-Ca Mâu- Ni Phật nên từ dưới mà đến. Mỗi vị Bồ- Tát đều là bậc đạo thủ trong đại chúng, đều đem theo sáu muôn hằng-hà-sa quyến-thuộc, huống là những vị đem năm muôn, bốn muôn, ba muôn, hai muôn, một muôn hằng-hà-sa quyến thuộc. Huống là nhẫn đến những vị đem một hằng-hà-sa, nửa hằng-hà-sa, một phần hằng-hà-sa, nhẫn đến một phần trong nghìn môn ức na-do-tha phần hằng-hà-sa quyến-thuộc. Huống là những vị đem nghìn muôn ức

na-do-tha quyến-thuộc, huống là đem muôn ức quyến-thuộc, huống là đem nghìn trăm muôn nhẫn đến một muôn, huống là đem một nghìn, một trăm nhẫn đến mười quyến thuộc, huống là năm, bốn, ba, hai, một người đệ-tử. Huống lại là những vị riêng một mình ưa hạnh viễn-ly, số đông vô lượng vô-biên dường ấy, tính đếm thí-dụ chẳng có thể biết được.

3.- Các vị Bồ-Tát đó từ dưới đất lên, đều đến nơi tháp đẹp bảy báu, chỗ của đức Đa-Bảo Như-Lai và Thích Ca Mâu-Ni Phật, đến nơi rồi hướng về hai vị Thế-Tôn mà đầu mặt lạy chân Phật, và đến chỗ các đức Phật ngồi trên tòa sư-tử dưới cội cây báu, cũng đều làm lễ. Đi quanh bên mặt ba vòng, chắp tay cung-kính dùng các cách ngợi-khen của Bồ-Tát mà ngợi-khen Phật, rồi đứng qua một phía, ưa vui chiêm-ngưỡng hai đấng Thế-Tôn. Từ lúc các vị Bồ-Tát do từ dưới đất vọt lên dùng các cách ngợi-khen của Bồ-Tát mà khen-ngợi Phật, thời gian đó trải qua năm mươi tiểu-kiếp. Bấy giờ, đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật nín lặng ngồi yên, cùng hàng tứ-chúng cũng đều nín lặng, năm mươi tiểu kiếp, vì do sức thần của Phật, khiến hàng đại- chúng cho là như nửa ngày. Bấy giờ, hàng tứ-chúng cũng nhờ sức thần của Phật, thấy các Bồ-Tát đầy khắp vô-lượng nghìn muôn ức cõi nước hư- không.

4.- Trong chúng Bồ-Tát đó có bốn vị Đạo sư: 1. Thượng Hạnh. 2. Vô-biên Hạnh. 3. Tịnh Hạnh. 4. An Lập Hạnh. Bốn vị Bồ- Tát này là bậc thượng-thủ xướng-Đạo sư trong chúng đó, ở trước đại-chúng, bốn vị đồng chắp tay nhìn đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật mà hỏi thăm rằng: “Thưa Thế-Tôn! Có được ít bệnh, ít não, an-vui luôn chăng, những người đáng độ thọ-giáo dễ chăng, chẳng làm cho đức Thế-Tôn sinh mỏi nhọc chăng?” Khi đó, bốn vị Bồ-Tát nói kệ rằng: Thế-Tôn được an-vui Ít bệnh cùng ít não, Giáo hóa các chúng-sinh, Được không mỏi nhọc ư? Lại các hàng chúng-sinh Thọ hóa có dễ chăng? Chẳng làm cho Thế-Tôn Sinh nhọc mệt đó ư?

5.- Lúc bấy giờ đức Thế-Tôn ở trong đại-chúng Bồ-Tát mà nói rằng: “Đúng thế! Đúng thế! Các thiện-nam tử! Đức Như-Lai an vui, ít bệnh, ít não, các hàng chúng- sinh hóa-độ được dễ, không có nhọc mệt.

Vì sao? Vì các chúng-sinh đó, từ nhiều đời nhẫn lại, thường được ta dạy bảo, mà cũng từng ở nơi các Phật quá-khứ, cung- kính, tôn-trọng, trồng các cội lành. Các chúng-sinh đó vừa mới thấy thân ta, nghe ta nói pháp, liền đều tín nhận, vào được trong huệ của Như-Lai, trừ người trước đã tu-tập học-hạnh tiểu-thừa; những người như thế ta cũng khiến được nghe kinh này, vào trong huệ của Phật”.

Lúc ấy các vị Bồ-Tát nói kệ rằng:

Hay thay! Hay thay!

Đức đại-hùng Thế-Tôn

Các hàng chúng-sinh thảy

Đều hóa độ được dễ

Hay hỏi các đức Phật

Về trí-huệ rất sâu

Nghe pháp rồi tin làm

Chúng con đều tùy-hỷ.

Khi đó, đức Thế-Tôn khen-ngợi các vị đại Bồ-Tát Thượng-thủ: “Hay thay! Hay thay! Thiện-nam-tử! Các ông có thể đối với đức Như-Lai mà phát lòng tùy-hỷ.”

6.- Bấy giờ ngài Di-Lặc Bồ-Tát cùng tám nghìn hằng-hà-sa các chúng Bồ-Tát đều nghĩ rằng: “Chúng ta từ xưa nhẫn lại chẳng thấy, chẳng nghe các chúng đại Bồ- Tát như thế, từ dưới đất vọt lên, đứng trước đức Thế-Tôn, chắp tay cúng dường thăm hỏi Như-Lai.” Lúc đó, ngài Di-Lặc Bồ-Tát biết tâm- niệm của tám nghìn hằng-hà-sa chúng Bồ- Tát, cùng muốn tự giải quyết chỗ nghi của mình, bèn chấp tay hướng về phía Phật, nói kệ hỏi rằng:

Vô-lượng nghìn muôn ức

Các Bồ-Tát đại-chúng

Từ xưa chưa từng thấy

Nguyện đấng Lưỡng-Túc nói

Là từ chốn nào đến

Do nhân-duyên gì nhóm

Thân lớn đại thần-thông

Trí huệ chẳng nghĩ bàn

Chí niệm kia bền vững

Có sức nhẫn-nhục lớn

Chúng-sinh chỗ ưa thấy

Là từ chốn nào đến?

Mỗi mỗi hàng Bồ-Tát

Đem theo các quyến-thuộc

Số đông không thể lường

Như số hằng-hà-sa

Hoặc có đại Bồ-Tát

Đem sáu muôn hằng-sa

Các đại-chúng như thế

Một lòng cầu Phật-đạo,

Những Đại-sư đó thảy

Sáu muôn hằng-hà-sa

Đều đến cúng dường Phật

Cùng hộ-trì kinh này.

Đem năm muôn hằng-sa

Số này hơn số trên

Bốn muôn và ba muôn

Hai muôn đến một muôn

Một nghìn một trăm thảy

Nhẫn đến một hằng-sa

Nửa và ba bốn phần

Một phần trong ức muôn

Nghìn muôn na-do-tha

Muôn ức các đệ-tử

Nhẫn đến đem nửa ức

Số đông lại hơn trên.

Trăm muôn đến một muôn

Một nghìn và một trăm

Năm mươi cùng một mươi

Nhẫn đến ba, hai, một

Riêng mình không quyến-thuộc

Ưa thích ở riêng vắng

Đều đi đến chỗ Phật

Số đây càng hơn trên.

Các đại-chúng như thế

Nếu người phát thẻ đếm

Quá nơi kiếp hằng-sa

Còn chẳng thể biết hết.

Các vị oai-đức lớn

Chúng Bồ-Tát tinh-tấn

Ai vì đó nói pháp

Giáo-hóa cho thành-tựu

Từ ai, đầu phát tâm?

Xưng-dương Phật-pháp nào?

Thọ-trì tu kinh gì?

Tu-tập Phật-đạo nào?

Các Bồ-Tát như thế

Thần-thông sức trí lớn

Đất bốn-phương rúng nứt

Đều từ đất vọt lên Thế-Tôn!

Con từ xưa

Chưa từng thấy việc đó

Xin Phật nói danh-hiệu

Cõi nước của kia ở.

Con thường qua các nước

Chưa từng thấy chúng này

Con ở trong chúng đây

Bèn chẳng quen một người

Thoạt vậy từ đất lên

Mong nói nhân-duyên đó.

Nay trong đại-hội này

Vô-lượng trăm nghìn ức

Các chúng Bồ-Tát đây

Đều muốn biết việc này

Hàng Bồ-Tát chúng kia

Gốc ngọn nhân duyên đó

Thế-Tôn đức vô-lượng

Cúi mong quyết lòng nghi.

7.- Khi ấy các vị Phật của đức Thích- Ca Mâu-Ni phân thân, từ vô-lượng nghìn muôn ức cõi nước ở phương khác đến, ngồi xếp bằng trên tòa sư-tử, dưới các gốc cây báu nơi trong tám phương. Hàng thị- giả của Phật đó, đều thấy đại-chúng Bồ- Tát ở bốn-phương cõi tam-thiên đại-thiên, từ đất vọt lên trụ trên hư-không, đều bạch với Phật mình rằng: “Thế-Tôn! Các đại- chúng vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ Bồ-Tát đó, từ chốn nào mà đến?” Lúc ấy các đức Phật đều bảo thị-giả: “Các Thiện-nam tử! Hãy chờ giây lát, hiện có vị đại Bồ-Tát tên là Di-Lặc, là vị mà đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật thọ-ký kế đây sẽ làm Phật đã hỏi việc đó, đức Phật sẽ đáp, các ông tự đương, nhân đây mà được nghe.”91

8.- Bấy giờ, đức Thích-Ca Mâu-ni Phật bảo ngài Di-Lặc Bồ-Tát: “Hay thay! Hay thay! A-Dật-Đa92, bèn có thể hỏi Phật việc lớn như thế, các ông phải chung một lòng, mặc giáp tinh-tấn, phát ý bền vững. Nay đức Như-Lai muốn hiển-phát tuyên-bày trí-huệ của các đức Phật, sức thần-thông tự-tại của các đức Phật, sức sư-tử mạnh nhanh của các đức Phật, sức oai thế mạnh lớn của các đức Phật.”

Khi đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Phải một lòng tinh-tấn

Ta muốn nói việc này

Chớ nên có nghi-hối

Trí Phật chẳng nghĩ bàn

Ông nay gắng sức tin

Trụ nơi trong nhẫn thiện

Chỗ pháp xưa chưa nghe

Nay đều sẽ được nghe

Nay ta an-ủi ông

Chớ ôm lòng nghi sợ

Phật không lời chẳng thật

Trí-huệ chẳng nghĩ bàn

Phật được pháp bậc nhất

Rất sâu khó phân biệt

Như thế nay sẽ nói

Các ông một lòng nghe.

9.- Khi đức Thế-Tôn nói kệ đó, bảo ngài Di-Lặc Bồ-Tát: “Nay ta ở trong đại- chúng này, tuyên bảo các ông. A-Dật-Đa! Các hàng đại Bồ-Tát vô-lượng vô-số a- tăng-kỳ, từ dưới đất vọt ra mà các ông từ xưa chưa từng thấy đó, chính Ta ở cõi Ta- bà lúc được vô-thượng chánh-đẳng chánh- giác rồi, giáo-hóa chỉ dẫn các Bồ-Tát đó, điều-phục tâm kia khiến phát đạo-tâm.

Các vị Bồ-Tát đó, ở phía dưới cõi Ta- bà, cõi đó trụ giữa hư-không, ở trong các kinh điển đọc tụng thông lẹ, suy ngẫm rõ hiểu, nghĩ tưởng chân-chánh. A-Dật-Đa! Các Thiện-nam-tử đó chẳng thích ở trong chúng nhiều nói bàn, thường ưa ở chỗ vắng, siêng tu tinh-tấn chưa từng thôi dứt. Cũng chẳng nương tựa người trời mà ở, thường ham trí-huệ sâu không có chướng- ngại, cũng thường ham nơi pháp của đức Phật, chuyên lòng tinh-tấn cầu huệ vô- thượng.

Lúc đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

A-Dật ông nên biết!

Các Bồ-Tát lớn này

Từ vô-số kiếp lại

Tu-tập trí-huệ Phật

Đều là Ta hóa-độ

Khiến phát đại-đạo tâm

Chúng đó là con Ta

Y chỉ thế-giới này

Thường tu-hạnh Đầu-đà

Chỉ thích ở chỗ vắng

Bỏ đại-chúng ồn náo

Chẳng ưa nói bàn nhiều,

Các vị đó như thế

Học tập đạo-pháp

Ta Ngày đêm thường tinh-tấn

Vì để cầu Phật-đạo

Ở phương dưới Ta-bà

Trụ giữa khoảng hư-không

Sức chí niệm bền-vững

Thường siêng cầu trí-huệ

Nói các món pháp mầu

Tâm kia không sợ-sệt.

Ta ở thành Già-Da

Ngồi dưới gốc Bồ-Đề

Thành bậc tối chánh-giác

Chuyển pháp-luân vô-thượng

Rồi mới giáo-hóa đó

Khiến đều phát đạo-tâm

Nay đều trụ bất-thối

Đều sẽ được thành Phật.

Nay Ta nói lời thật

Các ông một lòng tin

Ta từ lâu xa lại

Giáo-hóa các chúng đó.

10.- Lúc bấy giờ, ngài Di-Lặc Bồ-Tát cùng vô-số chúng Bồ-Tát, lòng sinh nghi- hoặc, lấy làm lạ chưa từng có mà nghĩ rằng: “Thế nào đức Thế-Tôn ở trong thời- gian rất ngắn mà có thể giáo-hóa vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ các đại Bồ-Tát đó, làm cho trụ nơi vô-thượng chánh-đẳng chánh- giác.” Liền bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Đức Như-Lai lúc làm Thái-Tử rời khỏi cung dòng Thích, ngồi nơi đạo-tràng cách thành Già-Da chẳng bao xa, được thành vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Từ đó đến nay mới hơn bốn mươi năm, đức Thế- Tôn thế nào ở trong thời-gian ngắn đó làm nên Phật sự lớn! Do thế-lực của Phật, do công-đức của Phật, giáo-hóa vô-lượng chúng Bồ-Tát lớn như thế sẽ thành vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác?” Thế-Tôn! Chúng đại Bồ-Tát này giả sử có người trong nghìn muôn ức kiếp đếm không thể hết, chẳng được ngằn mé, chúng đó từ lâu nhẫn lại, ở nơi vô-lượng vô-biên các đức Phật, trồng các gốc lành, thành-tựu đạo Bồ-Tát thường tu phạm- hạnh.Thế-Tôn! Việc như thế đời rất khó tin. Thí như có người sắc đẹp tóc đen, tuổi hai mươi lăm, chỉ người trăm tuổi, nói đó chính là con của Ta. Người trăm tuổi nọ cũng chỉ gã tuổi nhỏ nói là cha ta, đẻ nuôi ta thảy, việc đó khó tin. Đức Phật cũng như thế.

Từ lúc thành đạo nhẫn đến nay, kỳ thực chưa bao lâu, mà các đại-chúng Bồ- Tát đó, đã ở nơi vô-lượng nghìn muôn ức kiếp, vì Phật-đạo nên siêng tu tinh-tấn, khéo nhập xuất trụ nơi vô-lượng nghìn muôn ức tam-muội93 được thần-thông lớn, tu hạnh thanh-tịnh đã lâu, khéo hay thứ đệ tập các pháp lành, giỏi nơi vấn-đáp, là báu quý trong loài người, tất cả thế-gian rất là ít có.

Ngày nay đức Thế-Tôn mới nói, lúc được Phật đạo, bắt đầu khiến kia phát tâm, giáo-hóa chỉ dạy dìu-dắt, làm cho kia hướng về vô-thượng chánh-đẳng chánh- giác. Đức Thế-Tôn thành Phật chưa bao lâu mà bèn có thể làm được việc công-đức lớn này. Chúng con dầu lại tin Phật tùy cơ-nghi nói pháp, lời Phật nói ra chưa từng hư- vọng, chỗ Phật biết thảy đều thông suốt, như các Bồ-Tát mới phát tâm, sau khi Phật diệt-độ nếu nghe lời này boặc chẳng tin nhận, sinh nhân-duyên tội-nghiệp phá chánh-pháp. Kính thưa Thế-Tôn! Mong vì chúng giải nói trừ lòng nghi của chúng con, và các-thiện-nam-tử đời vị-lai nghe việc này rồi cũng chẳng sinh nghi. Lúc đó ngài Di-Lặc muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

11.- Phật xưa từ dòng

Thích Xuất-gia gần Già-da

Ngồi dưới cây Bồ-đề

Đến nay còn chưa xa.

Các hàng Phật-tử này

Số đông không thể lường

Lâu đã tu Phật-Đạo

Trụ nơi sức thần-thông

Khéo học đạo Bồ-Tát •  •

Chẳng nhiễm pháp thế-gian

Như hoa sen trong nước

Từ đất mà vọt ra

Đều sinh lòng cung-kính

Đứng nơi trước Thế-Tôn,

Việc đó khó nghĩ bàn

Thế nào mà tin được

Phật được đạo rất gần

Chỗ thành-tựu rất nhiều

Mong vì trừ lòng nghi

Như thực phân-biệt nói

Thí như người trẻ mạnh

Tuổi mới hai mươi lăm

Chỉ người trăm tuổi già

Tóc bạc và mặt nhăn:

Bọn này của ta sinh

Con cũng nói là cha

Cha trẻ mà con già

Mọi người đều chẳng tin.

Thế-Tôn cũng như thế

Được đạo đến nay gần

Các chúng Bồ-Tát này

Chí vững không khiếp nhược

Từ vô-lượng kiếp lại

Mà tu đạo Bồ-Tát

Giỏi nơi gạn hỏi đáp

Tâm kia không sợ-sệt

Nhẫn-nhục lòng quyết-định

Đoan-chánh có oai-đức

Mười-phương Phật khen-ngợi

Khéo hay phân-biệt nói

Chẳng thích ở trong chúng

Thường ưa ở thiền-định,

Vì cầu Phật đạo vậy

Trụ hư-không phương dưới.

Chúng con từ Phật nghe

Nơi việc này không nghi

Nguyện Phật vì người sau

Diễn nói khiến rõ hiểu,

Nếu người ở kinh này

Sinh nghi lòng chẳng tin

Liền phải đọa đường dữ

Mong nay vì giải nói:

Vô-lượng Bồ-Tát đó

Thế nào thời-gian ngắn

Giáo-hóa khiến phát tâm

Mà trụ bậc bất-thối?

 

Thích Nghĩa

  1. 91. Sau khi giáo pháp của đức Thích-Ca diệt, mãn tiểu kiếp thứ 9, qua tiểu kiếp thứ 10, thời kỳ kiếp giảm người thọ 80.000 tuổi, đức Di-Lặc Bồ-Tát hiện thân thành Phật ở cõi này hiệu là “Di- Lặc Phật”.
  2. 92.Tên của Di-Lặc Bồ-Tát, Tàu dịch là “Vô năng thắng”, còn Di- Lặc là họ, dịch là “Từ-Thị”.
  3. 93. Tiếng Phạm, dịch là (chánh định). Mới vào cõi định gọi là “nhập”, ở trong cõi định gọi là “trụ”, từ cõi định dậy gọi là “xuất” (ra).

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “NHƯ LAI THỌ LƯỢNG” THỨ MƯỜI SÁU

1.- Lúc bấy giờ, Phật bảo các Bồ-Tát và tất cả đại-chúng: “Các thiện-nam-tử! Các ông phải tin hiểu lời nói chắc thật của Như-Lai.”

Lại bảo đại-chúng: “Các ông phải tin hiểu lời nói chắc thật của Như-Lai.”

Lại bảo đại-chúng: “Các ông phải tin hiểu lời nói chắc thật của Như-Lai.”

Lúc đó đại-chúng Bồ-Tát, ngài Di-Lặc làm đầu, chấp tay bạch Phật rằng: “Thế- Tôn! Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin nhận lời Phật.” Ba phen bạch như thế rồi lại nói: “Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin nhận lời Phật.”

2.- Bấy giờ, đức Thế-Tôn biết các vị Bồ-Tát ba phen thỉnh chẳng thôi, mà bảo

đó rằng: “Các ông lóng nghe! Sức bí-mật thần-thông của Như-Lai, tất cả trong đời, trời, người và A-tu-la đều cho rằng nay đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật ra khỏi cung họ Thích, cách thành Già-da chẳng bao xa, ngồi nơi đạo-tràng được vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác.

Nhưng, Thiện-nam-tử! Thực ta thành Phật nhẫn lại đây, đã vô-lượng vô-biên trăm nghin muôn ức na-do-tha kiếp. Ví như năm trăm nghìn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ cõi tam-thiên, đại-thiên, giả-sử có người nghiền làm vi-trần qua phương Đông, cách năm trăm nghìn muôn ức na- do-tha a-tăng kỳ cõi nước, bèn rơi một bụi trần, đi qua phía đông như thế cho đến hết vi-trần đó.

Các Thiện-nam-tử! Ý ông nghĩ sao? Các thế-giới đó có thể suy gẫm so tính biết được số đó chăng?” Di-Lặc Bồ-Tát, thảy đều bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Các thế-giới đó vô-lượng vô-biên, chẳng phải tính được, đếm được, cũng chẳng phải tâm-lực biết đến được. Tất cả Thanh-văn, Duyên-giác dùng trí vô-lậu, chẳng có thể suy-nghĩ biết được hạn số đó, chúng con trụ bậc bất-thối, ở trong việc này cũng chẳng thông đạt. Thế Tôn! Các thế-giới như thế, nhiều vô-lượng vô-biên.”

3.- Bấy giờ, Phật bảo các chúng Bồ-Tát: “Các Thiện-nam-tử! Nay ta sẽ tuyên nói rành-rõ cho các ông. Các thế-giới đó, hoặc dính vi-trần hoặc chẳng dính, đều nghiền cả làm vi-trần, cứ một trần là một kiếp, từ ta thành Phật nhẫn lại đến nay, lại lâu hơn số đó trăm nghìn muôn ức na-do-tha a- tăng-kỳ kiếp. Từ đó nhẫn lại, ta thường ở cõi Ta-bà này nói pháp giáo-hóa, cũng ở trong trăm nghìn muôn ức na-do-tha a- tăng-kỳ cõi nước khác dắt dẫn lợi-ích chúng-sinh. Các Thiện-nam-tử! Nơi chặng giữa đó ta nói Phật Nhiên-Đăng v.v... và lại có các đức Phật nhập Niết Bàn, như thế đều là dùng phương tiện để phân biệt.

Các Thiện-nam-tử! Nếu có chúng-sinh nào đến chỗ ta, ta dùng Phật nhãn quan- sát: tín v.v... các căn lợi độn của chúng, tùy theo chỗ đáng độ, nơi nơi tự nói văn- tự chẳng đồng, niên kỷ hoặc lớn, hoặc nhỏ, cũng lại hiện nói sẽ nhập Niết-bàn, lại dùng các trí phương-tiện nói pháp vi-diệu, có thể làm cho chúng-sinh phát lòng vui mừng. Các Thiện-nam-tử! Như Lai thấy những chúng sinh ưa nơi pháp tiểu thừa, đức mỏng tội nặng. Phật vì người đó nói: Ta lúc trẻ xuất-gia được vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác, nhưng thật, từ Ta thành Phật nhẫn lại, lâu xa dường ấy, chỉ dùng phương-tiện giáo-hóa chúng-sinh, khiến vào Phật-đạo, nên nói như thế.

4.- Các Thiện-nam-tử! Kinh-điển của đức Như-Lai nói ra, đều vì độ thoát chúng-sinh, hoặc nói thân mình, hoặc nói thân người, hoặc chỉ thân mình, hoặc chỉ thân người, hoặc chỉ việc mình, hoặc chỉ việc người, các lời nói đều thật chẳng dối. Vì sao? Vì đức Như-Lai đúng như thật thấy biết tướng của tam-giới, không có sinh-tử, hoặc thối, hoặc xuất, cũng không ở đời và diệt-độ, chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải như, chẳng phải dị, chẳng phải như ba cõi mà thấy nơi ba cõi. Các việc như thế Như-Lai thấy rõ, không có sai lầm. Bởi các chúng-sinh có các món tính, các món dục, các món hạnh, các món nhớ tưởng phân-biệt, muốn làm cho sinh các căn lành, nên dùng bao nhiêu nhân-duyên, thí-dụ ngôn-từ, các cách nói pháp, chỗ làm Phật-sự, chưa từng tạm bỏ. Như thế, từ ta thành Phật nhẫn lại, thật là lâu xa, thọ mạng vô-lượng a-tăng-kỳ kiếp, thường còn chẳng mất. Các Thiện-nam-tử! Ta xưa tu-hành đạo Bồ-Tát, cảm thành thọ-mạng, nay vẫn chưa hết, lại còn hơn số trên, nhưng nay chẳng phải thật diệt-độ, mà bèn xướng nói sẽ diệt-độ. Đức Như-Lai dùng phương-tiện đó, giáo-hóa chúng-sinh. Vì sao? - Vì nếu Phật ở lâu nơi đời, thời người đức mỏng, chẳng trồng gốc lành, nghèo cùng hèn-hạ, ham ưa năm món dục, sa vào trong lưới nhớ tưởng vọng-kiến. Nếu thấy đức Như-Lai thường còn chẳng mất, bèn sinh lòng buông-lung nhàm trễ, chẳng có thể sinh ra ý tưởng khó gặp-gỡ cùng lòng cung-kính, cho nên đức Như-Lai dùng phương-tiện nói rằng: “Tỳ kheo phải biết, các đức Phật ra đời, khó có thể gặp gỡ.” Vì sao? - Những người đức mỏng, trải qua trăm nghìn muôn ức kiếp, hoặc có người thấy Phật hoặc người chẳng thấy, do việc này, nên ta nói rằng: “Tỳ kheo! Đức Như-Lai khó có thể được thấy.” Các chúng-sinh đó nghe lời như thế, ắt sẽ sinh ý-tưởng khó gặp-gỡ, ôm lòng luyến-mộ khát-ngưỡng nơi Phật, bèn trồng gốc lành, cho nên đức Như-Lai dầu chẳng diệt mà nói diệt-độ. Lại Thiện-nam-tử! Phương-pháp của các đức Phật Như-Lai đều như thế, vì độ chúng-sinh đều thật chẳng dối.

5. - Ví như vị lương-y, trí-huệ sáng- suốt, khéo luyện phương thuốc trị các bệnh. Người đó nhiều con cái, hoặc mười, hai mươi nhẫn đến số trăm, do có sự duyên đến nước xa khác. Sau lúc đó các người con uống thuốc độc khác, thuốc phát mê-loạn lăn-lộn trên đất. Bấy giờ, người cha từ nước xa trở về nhà. Các con uống thuốc độc, hoặc người mất bản tâm, hoặc chẳng mất, xa thấy cha về đều rất vui mừng, quỳ lạy hỏi thăm: “An-lành về an-ổn. Chúng con ngu-si, lầm uống thuốc độc, xin cứu lành cho, lại ban thọ-mệnh cho chúng con.” Cha thấy các con khổ não như thế, y theo các kinh phương[1], tìm cỏ thuốc tốt, mùi sắc vị ngon, thảy đều đầy-đủ. Đâm nghiền hòa-hợp, đưa bảo các con uống mà nói rằng: “Thuốc đại lương-dược này mùi sắc vị ngon, thảy đều đầy đủ, các con nên uống, mau trừ khổ-não, không còn lại có các bệnh-hoạn.” Trong các con, những người chẳng thất tâm, thấy thuốc lương dược ấy, sắc hương đều tốt, liền bèn uống đó, bệnh trừ hết, được lành mạnh. Ngoài ra, những người thất tâm, thấy cha về dầu cũng vui mừng hỏi thăm, cầu xin trị bệnh, song trao thuốc cho mà không chịu uống. Vì sao? Vì hơi độc đã thâm-nhập làm mất bản tâm, nơi thuốc tốt thơm đẹp này mà cho là không ngon. Người cha nghĩ rằng: “Người con này đáng thương, bị trúng độc, tâm đều điên-đảo, dầu thấy ta về, mừng cầu xin cứu lành, nhưng thuốc tốt như thế, mà chẳng chịu uống, nay ta bày chước phương-tiện, khiến chúng uống thuốc này.” Nghĩ thế rồi liền bảo rằng: “Các con phải biết, Ta nay già suy, giờ chết đã đến, thuốc ‘lương-dược’ tốt này nay để ở đây, các con nên lấy uống, chớ lo không lành.” Bảo thế, rồi lạì đến nước khác, sai sứ về nói: “Cha các ngươi đã chết.” Bấy giờ, các con nghe cha chết, lòng rất sầu khổ mà nghĩ rằng: “Nếu cha ta còn, thương xót chúng ta,có thể được cứu hộ, hôm nay bỏ ta xa chết ở nước khác.” Tự nghĩ mình nay côi cút, không có chỗ cậy nhờ, lòng thương bi-cảm, tâm bèn tỉnh ngộ biết thuốc này, sắc hương vị ngon, liền lấy uống đó, bệnh độc đều lành. Người cha nghe các con đều đã lành mạnh, liền trở về cho các con đều thấy. Các Thiện-nam-tử! Ý ông nghĩ sao? Vả có người nào có thể nói ông lương y đó mắc tội hư-dối chăng?

- Thưa Thế-Tôn! không thể được! Phật nói: “Ta cũng như thế, từ khi thành Phật đến nay đã vô-lượng vô-biên trăm nghìn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp, vì chúng sinh dùng sức phương-tiện nói: ‘Sẽ diệt độ’, cũng không ai có thể đúng như pháp mà nói ta lỗi hư dối.” Khi đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6.- Từ ta thành Phật lại

Trải qua các kiếp số

Vô-lượng trăm nghìn muôn

A-tăng-kỳ ức năm

Thường nói pháp giáo-hóa

Vô-số ức chúng-sinh

Khiến vào nơi Phật-đạo

Đến nay vô-lượng kiếp

Vì độ chúng-sinh vậy

Phương-tiện hiện Niết-bàn

Mà thật chẳng diệt-độ

Thường trụ đây nói pháp

Ta thường trụ ở đây

Dùng các sức thần-thông

Khiến chúng-sinh điên-đảo

Dầu gần mà chẳng thấy

Chúng thấy Ta diệt-độ

Rộng cúng dường Xá-lợi

Thảy đều hoài luyến mộ

Mà sinh lòng khát-ngưỡng,

Chúng-sinh đã tín-phục

Ngay thật ý dịu-hòa

Một lòng muốn thấy Phật

Chẳng tự tiếc thân mạng

Giờ Ta cùng chúng Tăng

Đều ra khỏi Linh-Thứu

Ta nói với chúng-sinh

Thường ở đây chẳng diệt

Vì dùng sức phương-tiện

Hiện có diệt chẳng diệt.

Nước khác có chúng-sinh

Lòng cung-kính tín-nhạo

Ta ở lại trong đó

Vì nói pháp vô-thượng

Ông chẳng nghe việc đó

Chỉ nói Ta diệt-độ.

Ta thấy các chúng-sinh

Chìm ở trong khổ-não

Nên chẳng vì hiện thân

Cho kia sinh khát-ngưỡng

Nhân tâm kia luyến-mộ

Hiện ra vì nói pháp

Sức thần-thông như thế

Ở trong vô-số kiếp

Thường tại núi Linh-Thứu

Và các trụ xứ khác.

Chúng-sinh thấy tận kiếp

Lúc lửa lớn thiêu đốt

Cõi Ta đây an-ổn

Trời người thường đông vầy

Vườn rừng các nhà gác

Những món báu trang-nghiêm

Cây báu nhiều hoa trái

Chỗ chúng-sinh vui chơi

Các trời đánh trống trời

Thường trổi những kỹ nhạc

Rưới hoa mạn-đà-la

Cúng Phật và đại-chúng.

Tịnh-độ Ta chẳng hư

Mà chúng thấy cháy rã

Lo-sợ các khổ-não

Như thế đều đầy-dẫy

Các chúng-sinh tội đó

Vì nhân-duyên nghiệp dữ

Quá a-tăng-kỳ kiếp

Chẳng nghe tên Tam-Bảo.

Người nhu-hòa ngay thật

Có tu các công-đức

Thời đều thấy thân Ta

Ở tại đây nói pháp.

Hoặc lúc vì chúng này

Nói Phật thọ vô-lượng,

Người lâu mới thấy Phật

Vì nói Phật khó gặp.

Trí-lực Ta như thế

Tuệ-Quang soi vô-lượng

Thọ-mạng vô-số kiếp

Tu hành lâu cảm được.

Các ông người có trí

Chớ ở đây sinh nghi

Nên dứt khiến hết hẳn

Lời Phật thực không dối.

Như lương-y chước khéo

Vì để trị cuồng-tử

Thật còn mà nói chết

Không thể nói hư-dối.

Ta là cha trong đời

Cứu các người đau-khổ

Vì phàm-phu điên-đảo

Thật còn mà nói diệt,

Vì cớ thường thấy Ta

Mà sinh lòng kiêu-tứ

Buông-lung ham ngũ-dục

Sa vào trong đường dữ.

Ta thường biết chúng-sinh

Hành-bạo chẳng hành-đạo

Tùy chỗ đáng độ được

Vì nói các pháp-môn

Hằng tự nghĩ thế này:

Lấy gì cho chúng-sinh

Được vào huệ vô-thượng

Mau thành-tựu thân Phật.

 

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC” THỨ MƯỜI BẢY

1.- Lúc bấy giờ, trong đại-hội nghe Phật nói thọ-mạng, kiếp số dài lâu như thế, vô-lượng, vô-biên, vô-số chúng-sinh được lợi-ích lớn. Khi đó, đức Thế-Tôn bảo ngài Di-Lặc đại Bồ-Tát: “A-Dật-Đa! Lúc Ta nói đức Như-Lai thọ-mạng dài lâu như thế, có sáu trăm tám muôn ức na-do tha hằng-hà-sa chúng-sinh được “Vô-sinh pháp-nhẫn”94. Lại có đại Bồ-Tát nghìn lần gấp bội được môn “Văn-trì-đà-la-ni”95. Lại có một thế-giới vi-trần số đại Bồ-Tát được “Nhạo- thuyết vô-ngại biện-tài”96. Lại có một thế- giới vi-trần số đại Bồ-Tát được trăm nghìn muôn ức vô-lượng môn “Triền đà-la-ni”. Lại có tam-thiên đại-thiên thế-giới vi-trần số đại Bồ-Tát chuyển được “Pháp-luân bất-thối”. Lại có nhị-thiên trung-quốc-độ vi-trần số đại Bồ-Tát chuyển được “Pháp-luân thanh-tịnh”. Lại có Tiểu-thiên quốc-độ vi- trần số đại Bồ-Tát tám đời sẽ được vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác. Lại có bốn Tứ-thiên-hạ97 vi-trần số đại Bồ-Tát bốn đời sẽ được chánh-đẳng chánh-giác. Lại có ba tứ-thiên-hạ vi-trần số đại Bồ-Tát ba đời sẽ được vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Lại có hai tứ-thiên-hạ vi-trần số đại Bồ-Tát hai đời sẽ được vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Lại có một tứ- thiên-hạ vi-trần số đại Bồ-Tát một đời sẽ được vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.

Lại có tám thế-giới vi-trần số chúng- sinh đều phát tâm vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.” 

2.- Lúc đức Phật nói các vị đại Bồ-Tát đó được pháp-lợi98, trên giữa hư-không, rưới hoa Mạn-đà-la, hoa Ma-ha mạn-đà-la để rải vô-lượng trăm nghìn muôn ức các đức Phật ngồi trên tòa sư-tử dưới gốc cây báu, và rải đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật cùng đức Đa-Bảo Phật ngồi trên tòa sư-tử trong tháp bảy báu: Cùng rải tất cả các đại Bồ-Tát và bốn-bộ-chúng. Lại rưới bột gỗ chiên-đàn, trầm-thủy hương v.v… trong hư-không, trống trời tự kêu tiếng hay sâu-xa. Lại rải nghìn thứ thiên-y, thòng các chuỗi ngọc, chuỗi ngọc trân châu, chuỗi châu ma-ni, chuỗi châu như-ý khắp cả chín phương, các lò hương báu đốt hương vô-giá, tự-nhiên khắp đến cúng dường đại- chúng. Trên mỗi đức Phật có các vị Bồ-Tát nắm cầm phan-lọng, thứ-đệ mà lên đến trời Phạm-thiên. Các vị Bồ-Tát đó dùng tiếng tăm hay, ca vô-lượng bài tụng ngợi- khen các đức Phật. Khi ấy ngài Di-Lặc Bồ-Tát từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, chắp tay hướng về phía Phật mà nói kệ rằng:

3.- Phật nói pháp ít có

Từ xưa chưa từng nghe

Thế-Tôn có sức lớn

Thọ-mạng chẳng thể lường.

Vô-số các Phật-tử

Nghe Thế-Tôn phân-biệt

Nói được pháp-lợi đó

Vui mừng đầy khắp thân

Hoặc trụ bậc bất-thối 

Hoặc được đà-la-ni

Hoặc vô-ngại nhạo-thuyết

Muôn ức triền tổng-trì.

Hoặc có cõi đại-thiên

Số vi-trần Bồ-Tát

Mỗi vị đều nói được

Pháp-luân bất-thối-chuyển.

Hoặc có trung-thiên-giới

Số vi-trần Bồ-Tát

Mỗi vị đều có thể

Chuyển-pháp-luân thanh-tịnh.

Lại có tiểu-thiên-giới

Số vi-trần Bồ-Tát

Còn dư lại tám đời

Sẽ được thành Phật-đạo.

Lại có bốn, ba, hai

Tứ-thiên-hạ như thế

Số vi-trần Bồ-Tát

Theo số đời thành Phật.

Hoặc một tứ-thiên-hạ

Số vi-trần Bồ-Tát

Còn dư có một đời

Sẽ thành nhứt-thiết-trí.

Hàng chúng-sinh như thế

Nghe Phật thọ dài lâu

Được vô-lượng quả-báo

Vô-lậu rất thanh-tịnh.

Lại có tám thế-giới

Số vi-trần chúng-sinh

Nghe Phật nói thọ-mạng

Đều phát tâm vô-thượng

4.- Thế-Tôn nói vô-lượng

Bất-khả tư-nghì pháp

Nhiều được có lợi-ích

Như hư-không vô-biên

Rưới hoa thiên mạn-đà

Hoa ma-ha mạn-đà Thích,

Phạm như hằng-sa

Vô-số cõi Phật đến

Rưới chiên-đàn trầm thủy

Lăng-xăng loạn sa xuống

Như chim bay liệng xuống

Rải cúng các đức Phật.

Trống trời trong hư-không

Tự-nhiên vang tiếng mầu,

Áo trời nghìn muôn thứ

Xoay-chuyển mà rơi xuống

Các lò hương đẹp báu

Đốt hương quý vô-giá

Tự-nhiên đều cùng khắp

Cúng dường các Thế-Tôn.

Chúng đại Bồ-Tát kia

Cầm phan-lọng bảy báu

Cao đẹp muôn ức thứ

Thứ lớp đến Phạm-Thiên.

Trước mỗi mỗi đức Phật

Tràng báu treo phan tốt

Cũng dùng nghìn muôn kệ

Ca vịnh các Như-Lai

Như thế các món việc

Từ xưa chưa từng có

Nghe Phật thọ vô-lượng

Tất cả đều vui-nừng

Phật tiếng đồn mười-phương

Rộng lợi ích chúng-sinh

Tất cả đủ căn-lành

Để trợ tâm vô-thượng.

5.- Lúc bấy giờ, Phật bảo ngài Di-Lặc đại Bồ-Tát : “A-Dật-Đa! Có chúng-sinh nào nghe đức Phật thọ mạng dài lâu như thế, nhẫn đến có thể sinh một niệm tín giải, được công-đức không thể hạn lượng được. Nếu có thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân, vì đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, trong tám mươi muôn ức na-do-tha kiếp tu năm pháp ba-la-mật: bố-thí ba-la-mật, trì-giới ba-la-mật, nhẫn-nhục ba-la-mật, tinh-tấn ba-la-mật, thiền-định ba-la-mật, trừ trí-huệ ba-la-mật, đem công-đức này sánh với công-đức tín-giải trước, trăm phần, nghìn phần, trăm nghìn muôn ức

phần chẳng kịp một, nhẫn đến tính đếm, thí-dụ, không thể biết được. Nếu thiện- nam-tử, thiện-nữ-nhân có công-đức như thế mà thối-thất nơi vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác, thời quyết không có lẽ đó.

Khi ấy, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6.- Nếu người cầu huệ Phật.

Trong tám mươi muôn ức

Na-do-tha kiếp số

Tu năm ba-la-mật

Ở trong các kiếp đó

Bố-thí cúng dường Phật

Và Duyên-giác đệ-tử

Cùng các chúng Bồ-Tát,

Đồ uống ăn báu lạ

Thượng phục và đồ nằm

Chiên-đàn dựng tinh-xá

Dùng vườn rừng trang-nghiêm

Bố-thí như thế thảy

Các món đều vi-diệu

Hết các kiếp số này

Để hồi-hướng Phật đạo,

Nếu lại gìn cấm giới

Thanh-tịnh không thiếu sót

Cầu nơi đạo vô-thượng

Được các Phật khen ngợi

Nếu lại tu nhẫn-nhục

Trụ nơi chỗ điều-nhu

Dầu các ác đến hại

Tâm đó chẳng khuynh-động

Các người có được pháp

Cưu lòng tăng-thượng-mạn

Bị bọn này khinh não

Như thế đều nhẫn được

Hoặc lại siêng tinh-tấn

Chí-niệm thường bền vững

Trong vô-lượng ức kiếp

Một lòng chẳng trễ thôi.

Lại trong vô-số kiếp

Trụ nơi chỗ vắng-vẻ

Hoặc ngồi hoặc kinh-hành

Trừ ngủ thường nhiếp-tâm

Do các nhân-duyên đó

Hay sinh các thiền định,

Tám mươi ức muôn kiếp

An-trụ tâm chẳng loạn

Đem phước thiền-định đó

Nguyện cầu đạo vô-thượng

Ta được nhứt-thiết-trí

Tận ngằn các thiền định

Người đó trong trăm nghìn

Muôn ức kiếp số lâu

Tu các công-đức này

Như trên đã nói rõ.

Có thiện-nam, tín-nữ.

Nghe ta nói thọ-mạng

Nhẫn đến một niềm tin

Phước đây hơn phước kia

Nếu người trọn không có

Tất-cả các nghi-hối

Thân tâm giây lát tin

Phước đó nhiều như thế.

Nếu có các Bồ-Tát

Vô-lượng kiếp hành đạo

Nghe ta nói thọ-mệnh

Đây thời tin nhận được

Các hàng người như thế

Đảnh thọ kinh-điển này

Nguyện ta thuở vị-lai

Sống lâu độ chúng-sinh

Như Thế-Tôn ngày nay

Vua trong các họ Thích

Đạo-tràng rền tiếng lớn

Nói pháp không sợ-sệt

Chúng ta đời vị-lai

Được mọi người tôn-kính

Lúc ngồi nơi đạo-tràng

Nói thọ-mạng cũng thế,

Nếu có người thâm-tâm

Trong-sạch mà ngay thật

Học rộng hay tổng-trì

Tùy nghĩa giải lời Phật

Những người như thế đó

Nơi đây không có nghi.

7.- Lại A-Dật-Đa! Nếu có người nghe nói đức Phật thọ-mạng dài lâu, hiểu ý-thú của lời nói đó, người này được công-đức không có hạn-lượng, có thể sinh-huệ vô- thượng của Như-Lai. Huống là người rộng nghe kinh này, hoặc bảo người nghe, hoặc tự thọ trì hoặc bảo người thọ trì, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, hoặc đem hoa hương, chuỗi ngọc, tràng-phan, lọng nhiễu, dầu thơm, đèn nến cúng dường quyển kinh, công-đức của người này vô-lượng vô-biên có thể sinh nhứt-thiết chủng-trí. A-Dật-Đa! Nếu Thiện-nam-tử, Thiện- nữ-nhân nghe ta nói thọ-mạng dài lâu sinh lòng tin hiểu chắc, thời chính là thấy đức Phật thường ở núi Kỳ-Xà-Quật, cùng chúng Bồ-Tát lớn và hàng Thanh-văn vây quanh nói pháp. Lại thấy cõi Ta-bà này đất bằng lưu-ly ngang liền bằng thẳng, dây vàng Diêm- phù-đàn để ngăn tám nẻo đường, cây báu bày hàng, các đài lầu nhà thảy đều các thứ báu hợp thành, chúng Bồ-Tát đều ở trong đó. Nếu có người tưởng quán được như thế, phải biết đó là tướng tin hiểu sâu chắc. Và lại sau đức Như-Lai diệt-độ, nếu có người nghe kinh này mà không chê bai, sinh lòng tùy-hỷ phải biết đó đã là tướng tin hiểu sâu chắc, huống là người đọc, tụng, thọ-trì kinh này, người này thì là kẻ đầu đội đức Như-Lai. A-Dật-Đa! Thiện-nam-tử cùng thiện- nữ-nhân đó chẳng cần lại vì ta mà dựng chùa tháp, và cất Tăng-phường dùng bốn sự cúng dường để cúng dường chúng Tăng. Vì sao? Vì thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân đó thọ-trì, đọc tụng kinh điển này thì là đã dựng tháp tạo lập Tăng-phường cúng dường chúng Tăng, thời là đem xá-lợi của Phật dựng tháp bảy báu cao rộng nhỏ lần lên đến trời Phạm-Thiên, treo các phan lọng và các linh báu, hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương-xoa, hương đốt, các trống, kỹ nhạc, ống tiêu, ống địch, không-hầu các thứ múa chơi, dùng tiếng giọng tốt ca ngâm khen-ngợi, thời là ở trong vô-lượng nghìn muôn ức kiếp đã làm việc cúng dường đó rồi. A-Dật-Đa! Nếu sau khi ta diệt-độ, nghe kinh điển này, có người hay thọ-trì, hoặc tự chép hoặc bảo người chép, đó là dựng lập Tăng-phường, dùng gỗ chiên-đàn đỏ làm các cung-điện nhà cửa ba mươi hai sở, cao bằng tám cây đa-la, cao rộng nghiêm đẹp, trăm nghìn Tỳ-kheo ở nơi trong đó. Vườn, rừng, ao tắm, chỗ kinh-hành, hang ngồi thiền, y-phục đồ uống ăn, giường nệm, thuốc thang tất cả đồ vui dẫy-đầy trong đó, Tăng-phường có ngần ấy trăm nghìn muôn ức nhà gác như thế, số đó nhiều vô- lượng, dùng để hiện tiền cúng dường nơi ta và Tỳ-kheo tăng. Cho nên ta nói: Sau khi Như-Lai diệt- độ nếu có người thọ-trì, đọc tụng, vì người khác nói. Hoặc mình chép hoặc bảo người chép, cúng dường kinh quyển thì chẳng cần lại dựng chùa tháp và tạo lập Tăng- phường cúng dường chúng Tăng. Huống lại có người hay thọ-trì kinh này mà gồm tu-hành bố-thí, trì-giới, nhẫn-nhục, tinh- tấn, nhất-tâm, trí-huệ, công-đức của người đây rất thù-thắng vô-lượng vô-biên.

Thí như hư-không, đông, tây, nam, bắc, bốn phía trên, dưới vô-lượng vô-biên, công-đức của người đó cũng lại như thế vô-lượng vô-biên mau đến bậc nhứt-thiết chủng-trí. Nếu có người đọc tụng thọ-trì kinh này vì người khác nói, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, lại có thể dựng tháp cùng tạo lập Tăng-phường cúng dường khen-ngợi chúng Thanh-văn-tăng, cũng dùng trăm nghìn muôn pháp ngợi-khen mà ngợi-khen công-đức của Bồ-Tát. Lại vì người khác dùng các món nhân- duyên theo nghĩa giải nói kinh Pháp-Hoa này, lại có thể thanh-tịnh trì-giới cùng người nhu-hòa mà chung cùng ở, nhẫn- nhục không sân, chí niệm bền vững, thường quý ngồi thiền được các món định sâu, tinh-tấn mạnh-mẽ nhiếp các pháp lành, căn lành trí-sáng, giỏi gạn hỏi đáp. A-Dật-Đa! Nếu sau khi ta diệt-độ các thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân thọ-trì, đọc tụng kinh điển này lại có các công-đức lành như thế, phải biết người đó đã đến đạo-tràng gần vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác ngồi dưới gốc đạo-thọ. A-Dật-Đa! Chỗ của thiện-nam-tử cùng thiện-nữ-nhân đó hoặc ngồi, hoặc đứng, hoặc đi, trong đó bèn nên xây tháp, tất cả trời người đều phải cúng dường như tháp của Phật. Khi ấy, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8.- Sau khi ta diệt độ

Hay phụng trì kinh này

Người đó phước vô-lượng

Như trên đã nói rõ.

Đó thời là đầy-đủ

Tất cả các cúng dường

Dùng xá-lợi xây tháp

Bảy báu để trang-nghiêm.

Chùa-chiền rất cao rộng

Nhỏ lần đến Phạm-thiên

Linh báu nghìn muôn ức

Gió động vang tiếng mầu,

Lại trong vô-lượng kiếp

Mà cúng dường tháp đó

Hoa hương, các chuỗi ngọc

Thiên-y, các kỹ-nhạc

Thắp đèn dầu nến thơm

Quanh khắp thường soi sáng,

Lúc đời ác mạt-pháp

Người hay trì kinh này

Thì là đã đầy đủ

Các cúng dường như trên.

Nếu hay trì kinh này

Thì như Phật hiện-tại

Dùng ngưu-đầu chiên-đàn

Dựng Tăng-phường cúng dường

Nhà ba mươi hai sở

Cao tám cây Đa-la

Đồ ngon y-phục tốt

Giường nằm đều đầy đủ.

Trăm nghìn chúng nương ở

Vườn rừng các ao tắm

Chỗ kinh-hành, ngồi thiền

Các món đều nghiêm tốt.

Nếu có lòng tín hiểu

Thọ-trì, đọc tụng biên

Nếu lại bảo người biên

Và cúng dường kinh quyển.

Rải hoa hương, hương bột

Dùng tu-mạn, chiêm-bặc

A-đề, mục-đa-dà

Ướp dầu thường đốt đó

Người cúng dường như thế

Được công-đức vô-lượng

Như hư-không vô-biên

Phước đó cũng như thế.

Huống lại trì kinh này

Gồm bố-thí trì-giới,

Nhẫn-nhục ưa thiền-định

Chẳng sân, chẳng ác khẩu

Cung-kính nơi tháp miếu

Khiêm-hạ các Tỳ-kheo

Xa lìa tâm tự cao

Thường nghĩ suy trí-huệ,

Có gạn hỏi chẳng sân

Tùy-thuận vì giải nói

Nếu làm được hạnh đó

Công-đức chẳng lường được.

Nếu thấy Pháp-sư này

Nên công-đức như thế

Phải dùng hoa trời rải

Áo trời trùm thân kia

Đầu mặt tiếp chân lạy

Sinh lòng tưởng như Phật,

Lại nên nghĩ thế này:

Chẳng lâu đến đạo-thọ

Được vô-lậu vô-vi

Rộng lợi các người trời

Chỗ trụ chỉ của kia

Kinh-hành hoặc ngồi nằm

Nhẫn đến nói một kệ

Trong đây nên xây tháp

Trang-nghiêm cho tốt đẹp

Các món đem cúng dường,

Phật-tử ở chỗ này

Thì là Phật thọ dụng

Thường ở nơi trong đó

Kinh-hành và ngồi nằm.

 

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

Quyển thứ năm

Toan cầu an lạc, bốn pháp bền tu, thân được “kế châu” nổi tiếng nhà, ba cõi bãi đao binh, bản và tích đều rõ, sa giới chúng ngộ vô sinh.

Nam-Mô Pháp-Hoa Hội-Thượng-Phật Bồ-Tát. (3 lần)

Đức Văn-Thù khải cáo, vừa giúp chân thuyên, bền giữ bốn pháp được an nhiên, từ đất vọt lên chúng nhiều nghìn, ngài A- Dật-Đa trùng tuyên, thọ lượng rộng vô biên.

Nam-Mô A-Dật-Đa Bồ Tát. (3 lần)

 

Sự tích

TẢ KINH CỨU BẠN ĐỒNG HỌC

Đời Tùy, niên hiệu Đại-Nghiệp, có vị khách Tăng đi đến miếu núi Thái-Sơn muốn tạm nghỉ. Người giữ miếu nói: Đây không có nhà nào khác, chỉ dưới mái hiên của miếu Thần có thể tạm nghỉ, nhưng vì gần đây, những người nghỉ nơi đó đều chết cả.

Khách Tăng nói. “không hề gì cho ta tạm nghỉ nơi đó”. Người giữ miếu bất đắc dĩ y lời dọn giường cho khách Tăng nghỉ dưới miếu.

Tối đến, khách Tăng ngồi ngay thẳng tụng kinh. Ước chừng một canh sau, nghe trong màn có tiếng vàng ngọc khua, giây lát có một vị Thần từ trong màn ra lễ lạy khách Tăng.

Khách Tăng nói: “Nghe người nói trước đây nhiều người bị chết tại chốn này, có phải là đàn-việt hại đó chăng, xin chớ hại ta.”

Thần nói: “Ngày trước tình cờ những người mệnh số sắp chết, nghe tiếng động của đệ tử, nhân quá sợ mà chết, chớ chẳng phải làm hại, xin thầy chớ lo.”

Khách Tăng mời Thần ngồi nói chuyện. Lát sau khách Tăng hỏi: “Nghe nói Thần Thái-Sơn cai trị loài quỷ có thật chăng?”

Thần đáp: “Đệ tử phước bạc, chính có thế.”

“Có phải Thầy muốn biết rõ việc người thân của Thầy đã chết chăng?”

Tăng nói: Ta hai bạn đồng học đã chết muốn thấy đó.

Thần hỏi tên hiệu rồi nói: “Một người đã đầu thai làm người, còn một người bị tội nặng đương ở địa ngục, không thể kêu đến, nếu Thầy muốn thấy cũng có thể được.”

Tăng rất mừng, liền đứng đậy đi theo Thần. Không bao xa, thấy nhà ngục cháy đỏ rực. Thần dắt Tăng vào một nhà, xa thấy một người đương ở trong lửa rên la nói không ra tiếng, thân thể nám đen không nhìn được, mùi thịt cháy hôi khét khiến người đau lòng.

Thần nói: “Chính ông ấy đó, Thầy có muốn đi xem vài nơi khác chăng?”

Tăng buồn rầu xin trở về. Giây lát đến miếu, lại cùng Thầy ngồi, Tăng hỏi Thần cách cứu bạn học.

Thần nói: “Có thể được lắm. Thầy nếu in ấn đuợc cho ông ấy một bộ kinh Pháp-Hoa, thì chắc ông ấy được khỏi.”

Bấy giờ gần sáng, Thần từ biệt Tăng vào trong.

Sáng, người giữ miếu thấy khách Tăng vẫn yên lành, lấy làm lạ hỏi. Tăng thuật chuyện trong đêm lại.

Khách Tăng về chùa vì bạn in ấn kinh Pháp- Hoa, việc xong đóng bìa xén cắt tử tế, lại mang kinh đến miếu. Đêm đó Thần ra chào hỏi mừng rỡ, hỏi thăm đến có việc chi. Khách Tăng đem chuyện in ấn kinh xong với Thần.

Thần nói: “Đệ tử đã biết rõ việc ấy, Thầy vì bạn in ấn kinh, lúc mới chép in đề kinh thì ông ấy đã khỏi khổ, hiện đã thác sinh vào nhân gian rồi, chỗ này không được tinh khiết không thể thờ kinh, xin Thầy đem kinh về chùa.”

Cùng nhau đàm luận, gần sáng, Thần từ biệt khách Tăng vào trong, Tăng lại mang kinh về chùa.

Quan Biệt-Giá Trương-Đức tự nói: “Khi ông trấn nhậm ở Châu-Đuyện có biết rõ việc trên.”

(Lại-Bộ Thượng-Thơ Đường-Lâm biên)

 

Thích Nghĩa

  1. 94.Sức trí nhận chắc nơi thể vô sinh của các pháp.
  2. 95.“Đà-la-ni” tiếng Phạm gọi là “tổng-trì”, được môn văn-trì đà- la-ni này thì nghe pháp đều có thể nhớ tất cả.
  3. 96.Được môn này thì ưa thích nói pháp không nhàm, không trệ ngại, tài biện luận vô tận.
  4. 97.Ngoài bốn phía núi Tu-Di, trong biển “đại hàm hải” có 4 châu: 1.- Đông-Thắng-Thần châu; 2.- Tây-Ngưu-Hóa châu; 3.- Bắc- Câu-Lư châu; 4.- Nam-Thiệm-Bộ châu cũng gọi Nam-diêm- phù-đề chính là cõi đất chúng ta hiện ở.

Vì nhân duyên nghe pháp mà được lợi ích.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Quyển thứ 6

Đời Diêu-Tần, Ngài Tam-Tạng Pháp-Sư Cưu-Ma-La-Thập phụng chiếu dịch.

PHẨM “TÙY-HỶ CÔNG-ĐỨC” THỨ MƯỜI TÁM

1.-Lúc bấy giờ, Ngài Di-Lặc Bồ-Tát bạch Phật rằng: Thế-Tôn! Nếu có thiện- nam-tử, thiện-nữ-nhân nào nghe kinh Pháp-Hoa này mà tuỳ hỷ đó, được bao nhiêu phúc đức? Liền nói kệ rằng:

Sau khi Phật diệt độ

Có người nghe kinh nầy

Nếu hay tùy hỷ đó99

Lại được bao nhiêu phước?

2.-Khi đó Phật bảo ngài Di-Lặc Bồ-Tát rằng: A-Dật-Đa! Sau khi Như-Lai diệt độ nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di và người trí khác, hoặc lớn, hoặc

nhỏ nghe kinh này mà tùy hỷ rồi, từ trong pháp hội ra đến chỗ khác, hoặc tại tăng phường, hoặc chỗ vắng vẻ, hoặc thành ấp, đường xá, xóm làng, ruộng rẫy, đem pháp đúng như chỗ đã nghe mà vì cha mẹ tôn thân, thiện hữu tri thức tùy sức diễn nói. Các người đó nghe rồi tùy hỷ lại đi truyền dạy người khác, người khác nghe rồi cũng tùy hỷ truyền dạy, xoay vần như thế đến người thứ năm mươi.

3.-A-Dật-Đa! Công đức tùy hỷ của thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân thứ năm mươi đó, ta nay nói, ông phải lóng nghe. Nếu bốn trăm muôn ức vô số thế giới có sáu đường chúng sinh trong bốn loài sinh100: noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, hoặc có hình, không hình, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng, không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, tất cả trong số chúng sinh như thế, có người cầu phước tuỳ theo đồ ưa thích của chúng muốn đều cung cấp cho đó. Mỗi mỗi chúng sinh cho các trân bảo tốt: vàng, bạc, lưu ly, xa-cừ, mã-não, san-hô, hổ-phách đầy cả Diêm-phù-đề và voi, ngựa, xe cộ, bảy báu làm thành những cung điện lầu gác v.v... Vị đại thí chủ đó bố thí như thế đủ tám mươi năm rồi mà nghĩ rằng: “Ta đã ban cho chúng sinh những đồ ưa thích tuỳ theo ý muốn, những chúng sinh nầy đều đã già suy tuổi quá tám mươi, tóc bạc mặt nhăn gần chết chẳng lâu, ta phải dùng Phật Pháp mà dạy bảo dìu dắt chúng.” Liền nhóm chúng sinh đó tuyên bày pháp giáo hóa, chỉ dạy lợi ích vui mừng. Đồng thời được đạo Tu-đà-hoàn, đạo Tư-đà- hàm, đạo A-na-hàm, đạo A-la-hán dứt hết cả hữu lậu, với những thiền định sâu đều được tự tại, đủ tám món giải thoát. Ý ông nghĩ sao? Công đức của vị đại thí chủ đó được, có nhiều chăng? Ngài Di-Lặc bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Công đức của người đó rất nhiều vô lượng vô biên. Nếu vị thí chủ đó chỉ thí tất cả đồ ưa thích cho chúng sinh công đức đã vô lượng rồi, huống là làm cho đều được quả A-la-hán.” Phật bảo ngài Di-Lặc: “Ta nay rành rẽ nói cùng ông, người đó đem tất cả đồ vui thích thí cho sáu đường chúng sinh trong bốn trăm ức vô số thế giới lại khiến được quả A-la-hán, công đức của người đó được chẳng bằng công đức của người thứ năm mươi kia nghe một bài kệ kinh Pháp-Hoa mà tùy hỷ, trăm phần nghìn phần, trăm nghìn muôn ức phần chẳng bằng một phần, nhẫn đến tính, đếm, thí dụ không thể biết được.”A-Dật-Đa! Người thứ năm mươi như thế, xoay vần nghe kinh Pháp-Hoa, công đức tuỳ hỷ còn vô lượng vô biên a-tăng-kỳ, huống là người tối sơ ở trong hội nghe kinh mà tuỳ hỷ, phước đó lại hơn vô lượng vô biên a-tăng-kỳ không có thể sánh được.

4.-Lại A-Dật-Da! Nếu có người vì kinh này mà qua đến tăng phường, hoặc ngồi, hoặc đứng, trong chốc lát nghe nhận, nhờ công đức đó chuyển thân sinh ra được voi, ngựa, xe cộ, kiệu, cáng bằng trân bảo tốt đẹp bậc thượng và được ở thiên cung. Nếu có người ngồi trong chỗ giảng pháp, sau lại có người đến bèn khuyên mời ngồi nghe, hoặc chia chỗ cho ngồi, công đức của người đó chuyển thân được chỗ ngồi của Đế-Thích hoặc chỗ ngồi của Phạm-vương hoặc chỗ ngồi của Chuyển- luân-thánh-vương.

5.-A-Dật-Đa! Nếu lại có người nói với người khác rằng: “Có kinh tên Pháp-Hoa nên cùng nhau qua nghe.” Liền nhận lời bảo nhẫn đến nghe trong giây lát, công đức của người đó, chuyển thân được với Đà-la-ni Bồ-Tát, sinh chung một chỗ, căn tánh lanh lợi, có trí huệ, trăm nghìn muôn đời, trọn chẳng ngọng câm, hơi miệng chẳng hôi, lưỡi thường không bệnh, miệng cũng không bệnh, răng chẳng đen dơ, chẳng vàng, chẳng thưa, cũng chẳng thiếu rụng, chẳng so le, chẳng sếu gãy, môi chẳng trớt, cũng chẳng rút túm, chẳng thô rít, chẳng ghẻ mụn, cũng chẳng sứt hư, cũng chẳng cong vẹo, chẳng dày chẳng lớn, cũng chẳng đen nám, không có các tướng đáng chê. Mũi chẳng xẹp giẹp, cũng chẳng cong gãy, sắc mặt chẳng đen, chẳng hẹp dài, cũng chẳng hóm gãy, không có tất cả tướng chẳng đáng ưa, môi lưỡi răng nướu thảy đều nghiêm tốt, mũi lớn cao thẳng, diện mạo tròn đầy, mày cao mà dài, trán rộng bằng thẳng, tướng người đầy đủ, đời đời sinh ra thấy Phật, nghe pháp tin nhận lời dạy bảo. A-Dật-Đa! Người hãy xem khuyên nơi một người khiến qua nghe pháp mà công đức như thế, huống là một lòng nghe, nói, đọc, tụng, lại ở trong đại chúng vì người phân biệt, đúng như lời dạy mà tu hành.

Khi đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6.- Nếu người trong pháp hội

Được nghe kinh điển này

Nhẫn đến một bài kệ

Tùy hỷ vì người nói

Xoay vần dạy như thế

Đến người thứ năm mươi

Người rốt sau được phước

Nay sẽ phân biệt đó.

Như có đại thí chủ

Cung cấp vô lượng chúng

Đầy đủ tám mươi năm

Tùy ý chúng ưa muốn

Thấy chúng: Tướng già suy

Tóc bạc và mặt nhăn •         •

Răng thưa, thân khô gầy

Nghĩ họ sắp phải chết

Ta nay phải nên dạy

Cho chúng được đạo quả

Liền vì phương tiện nói

Pháp Niết-bàn chân thật

Đời đều chẳng bền chắc

Như bọt bóng ánh nắng

Các ngươi đều nên phải

Mau sinh lòng nhàm lìa.

Các người nghe pháp đó

Đều được A-la-hán

Đầy đủ sáu thần thông

Ba minh tám giải thoát.

Người năm mươi rốt sau

Nghe một kệ tùy hỷ

Người này phước hơn kia.

Không thể thí dụ được

Xoay vần nghe như thế.

Phúc đó còn vô lượng

Huống là trong pháp hội

Người tuỳ hỷ ban đầu.

Nếu có khuyên một người

Dắt đến nghe Pháp-Hoa Rằng:

Kinh nầy rất mầu

Nghìn muôn kiếp khó gặp

Liền nhận lời qua nghe

Nhẫn đến nghe giây lát

Phước báo của người đó

Nay nên phân biệt nói.

Đời đời miệng không bệnh

Răng chẳng thưa, vàng, đen,

Môi chẳng dày teo thiếu

Không có tướng đáng chê.

Lưỡi chẳng khô đen ngắn

Mũi cao lớn mà ngay

Trán rộng và bằng thẳng

Mặt, mắt đều đoan nghiêm

Được người thấy ưa mến

Hơi miệng không hôi nhơ

Mùi thơm hoa ưu-bát

Thường từ trong miệng ra.

Nếu cố đến tăng phường

Muốn nghe kinh Pháp-Hoa

Giây lát nghe vui mừng

Nay sẽ nói phước đó:

Sau sinh trong trời người

Được voi, ngựa, xe tốt

Kiệu, cáng, bằng trân báu,

Cùng ở cung điện trời.

Nếu trong chỗ giảng pháp

Khuyên người ngồi nghe kinh

Nhân vì phước đó được

Tòa Thích, Phạm, Chuyển Luân

Huống là một lòng nghe

Giải nói nghĩa thú kinh

Đúng như pháp mà tu

Phước đó chẳng lường được.

 

Thích Nghĩa

  1. 99.Tuỳ hỷ: Vui theo, vui mừng ưng thuận tán thành.
  2. 100.Bốn loài sinh:
  1. 1.Noãn sinh: Loài từ trứng sinh ra như chim v.v...
  2. 2.Thai sinh: Loài từ bào thai sinh ra như người v.v...
  3. 3.Thấp sinh: Loài từ ẩm ướt sinh ra như trùng, đom đóm v.v...
  4. 4.Hóa sinh: Loài từ biến hóa sinh ra như trời, địa-ngục v.v...

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “PHÁP-SƯ CÔNG-ĐỨC” THỨ MƯỜI CHÍN

1.-Lúc bấy giờ, Phật bảo ngài Thường- Tinh-Tấn đại Bồ-Tát rằng: “Nếu có thiện- nam-tử, thiện-nữ-nhân thọ trì kinh Pháp- Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, người đó sẽ được tám trăm công đức nơi mắt, một nghìn hai trăm công đức nơi tai, tám trăm công đức nơi mũi, một nghìn hai trăm công đức nơi lưỡi, tám trăm công đức nơi thân, một nghìn hai trăm công đức nơi ý, dùng những công đức này trang nghiêm sáu căn đều được thanh tịnh. Thiện-nam-tử và thiện-nữ-nhân đó, nhục nhãn thanh tịnh của cha mẹ sinh ra, thấy khắp cõi tam-thiên đại-thiên, trong ngoài có những núi, rừng, sông, biển, dưới đến địa ngục A-tỳ, trên đến cõi trời Hữu-Đảnh, cũng thấy tất cả chúng sinh trong đó và nghiệp nhân duyên quả báo chỗ sinh ra thảy đều thấy biết.” Khi đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2.-Nếu người ở trong chúng

Dùng tâm không sợ sệt

Nói kinh Pháp-Hoa này

Ông nghe công đức đó

Người đó được tám trăm

Công đức thù thắng nhãn

Do dùng đây trang nghiêm

Mắt kia rất thanh tịnh.

Mắt thịt cha mẹ sinh

Thấy cả cõi tam thiên

Trong ngoài núi Di-lâu

Núi Tu-di, Thiết-vi

Và các núi rừng khác

Biển lớn nước sông ngòi

Dưới đến ngục A-tỳ

Trên đến trời Hữu-Đảnh

Chúng sinh ở trong đó

Tất cả đều thấy rõ

Dầu chưa được thiên nhãn

Sức nhục nhãn như thế.

3.-Lại nữa, Thường-Tinh-Tấn! Nếu người thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân, thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc biên chép, hoặc giải nói, được một nghìn hai trăm nhĩ công đức, dùng tai thanh tịnh đó, nghe khắp cõi tam thiên, dưới đến địa- ngục vô gián, trên đến trời Hữu-Đảnh, trong ngoài các thứ lời lẽ giọng tiếng. Tiếng voi, tiếng ngựa,tiếng xe, tiếng trâu, tiếng khóc la, tiếng buồn than, tiếng ốc; tiếng trống, tiếng chuông, tiếng linh, tiếng cười, tiếng nói, tiếng trai, tiếng gái, tiếng đồng-tử, tiếng đồng-nữ, tiếng pháp, tiếng phi pháp, tiếng khổ, tiếng vui, tiếng phàm phu, tiếng thánh nhân, tiếng đáng ưa, tiếng chẳng đáng ưa, tiếng trời, tiếng rồng, tiếng Dạ xoa, tiếng Càn thát bà, tiếng A tu la, tiếng Ca lâu la, tiếng Khẩn na la, tiếng Ma hầu La dà, tiếng lửa, tiếng nước, tiếng gió, tiếng địa-ngục, tiếng súc sinh, tiếng

ngạ quỷ, tiếng Tỳ-kheo, tiếng Tỳ-kheo-ni, tiếng Thanh-văn, tiếng Bích-chi-Phật, tiếng Bồ-Tát, tiếng Phật. Nói tóm đó, trong cõi tam-thiên đại- thiên, tất cả trong ngoài có các thứ tiếng, dầu chưa được thiên nhĩ dùng tai tầm thường thanh tịnh của cha mẹ sinh thảy đều nghe biết, phân biệt các thứ tiếng tăm như thế, mà chẳng hư nhĩ căn. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

4.-Tai cha mẹ sinh ra

Trong sạch không đục nhơ

Dùng tai thường này nghe

Cả tiếng cõi tam thiên

Tiếng voi, ngựa, trâu, xe

Tiếng chung linh loa cổ

Tiếng cầm, sắc, không hầu

Tiếng ống tiêu, ống địch

Tiếng ca hay thanh tịnh

Nghe đó mà chẳng ham.

Tiếng vô số giống người

Nghe đều hiểu rõ được

Lại nghe tiếng các trời

Tiếng ca rất nhiệm mầu

Và nghe tiếng trai, gái,

Tiếng đồng-tử, đồng-nữ

Trong núi sông hang hiểm

Tiếng Ca-lăng-tần-già

Cộng-mạng các chim thảy

Đều nghe tiếng của nó.

Địa ngục các đau đớn

Các thứ tiếng độc khổ

Ngạ quỷ đói khát bức

Tiếng tìm cầu uống ăn

Các hàng A-tu-la

Ở nơi bên biển lớn

Lúc cùng nhau nói năng

Vang ra tiếng tăm lớn

Như thế người nói pháp

An trụ ở trong đây

Xa nghe các tiếng đó

Mà chẳng hư nhĩ căn

Trong cõi nước mười phương

Cầm thú kêu hô nhau

Người nói kinh Pháp-Hoa

Ở đây đều nghe đó

Trên các trời Phạm-Thế

Quang-Âm cùng Biến-Tịnh

Nhẫn đến trời Hữu-Đảnh

Tiếng tăm của kia nói

Pháp-sư ở nơi đây

Thảy đều được nghe đó.

Tất cả chúng Tỳ-kheo

Và các Tỳ-kheo-ni

Hoặc đọc tụng kinh điển,

Hoặc vì người khác nói

Pháp-sư ở nơi đây

Thảy đều được nghe đó.

Lại có các Bồ-Tát

Đọc tụng nơi kinh pháp

Hoặc vì người khác nói

Soạn tập giải nghĩa kinh

Các tiếng tăm như thế

Thảy đều được nghe đó.

Các Phật đấng Đại-Thánh

Giáo hóa hàng chúng sinh

Ở trong các đại hội

Diễn nói pháp nhiệm mầu

Người trì Pháp-Hoa nầy

Thảy đều được nghe đó.

Cõi tam-thiên đại-thiên

Các tiếng tăm trong ngoài

Dưới đến ngục A-tỳ101

Trên đến trời Hữu-Đảnh102

Đều nghe tiếng tăm kia

Mà chẳng hư nhĩ căn

Vì tai kia sáng lẹ

Đều hay phân biệt biết

Người trì kinh Pháp-Hoa

Dầu chưa được thiên nhĩ

Chỉ dùng tai sinh ra

Công đức đã như thế.

5.-Lại nữa, Thường-Tinh-Tấn! Nếu có thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân, thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, trọn nên tám trăm tỷ công đức, dùng tỷ căn thanh tịnh đó, ngửi khắp cõi tam-thiên đại-thiên, trên dưới trong ngoài các thứ mùi: Mùi hoa tu-mạn-na, mùi hoa xa-đề, mùi hoa mạt-lợi, mùi hoa chiêm-bặc, mùi hoa ba-la-la, mùi hoa sen đỏ, mùi hoa sen xanh, mùi hoa sen trắng,

mùi cây có hoa, mùi cây có trái, mùi chiên- đàn, mùi trầm-thủy, mùi đa-ma-la-bạt, mùi đa-dà-la, đến trăm nghìn thứ hòa lộn, hoặc là bột, hoặc là viên, hoặc là hương xoa, người trì kinh này ở trong đây đều có thể phân biệt. Và lại rõ biết mùi chúng sinh: Mùi voi, mùi ngựa, mùi dê, trâu v.v.. mùi trai, mùi gái, mùi đồng-nữ và mùi cỏ cây lùm rừng, hoặc gần, hoặc xa, bao nhiêu thứ mùi có ra, thảy đều được ngửi rõ biết chẳng nhầm. Người trì kinh này dầu ở nơi đây cũng ngửi mùi trên các cõi trời: Mùi cây ba- lợi- chất-đa-la, cây câu-bệ-đà-la, cùng mùi hoa mạn-đà-la, hoa đại-mạn-đa-la, hoa mạn- thù-sa, hoa đại-mạn-thù-sa, mùi gỗ chiên- đàn, trầm-thuỷ các thứ hương bột, mùi các hoa đẹp. Các thứ hương trời như thế hòa hợp thoảng ra mùi thơm đều ngửi biết. Lại ngửi mùi nơi thân của các vị trời: Mùi của Thích-Đề-Hoàn-Nhân lúc ở trên thắng điện, năm món dục vui chơi, hoặc mùi lúc ở trên Diệu-Pháp-Đường vì các vị trời Đao-Lợi nói pháp, hoặc mùi lúc dạo chơi trong vườn, cùng mùi nơi thân của các vị trời nam nữ khác, thảy đều xa ngửi biết. Xoay vần như thế nhẫn đến trời Phạm-Thế, trên đến mùi nơi thân các vị trời Hữu-Đảnh cũng đều ngửi biết. Và ngửi mùi hương của các vị trời đốt và mùi Thanh-văn, mùi Bích-chi-Phật, mùi Bồ-Tát, mùi nơi thân các đức Phật, cũng đều xa ngửi biết chỗ ở của đó. Dầu ngửi biết hương ấy, nhưng nơi tỷ căn không hư không sai, nếu muốn phân biệt vì người khác nói, nghi nhớ không nhầm. Lúc đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6.-Người đó mũi thanh tịnh

Ở trong thế giới này

Hoặc vật thơm hoặc hôi

Các thứ đều ngửi biết.

Tu-mạn-na, xà-đề

Đa-ma-la, chiên-đàn

Trầm-thủy và mùi quế

Mùi các thứ hoa trái

Và mùi các chúng sinh:

Mùi nam-tử, nữ-nhân

Người nói pháp ở xa

Ngửi mùi biết chỗ nào.

Đại-Thế Chuyển-luân-vương

Tiểu-chuyển-luân và con

Bầy tôi, các cung nhân

Ngửi mùi biết chỗ nào.

Trân bảo đeo nơi thân

Cùng tạng báu trong đất

Bảo-nữ của Luân-vương

Ngửi hương biết chỗ nào.

Mọi người đồ nghiêm thân

Y phục và chuỗi ngọc

Các thứ hương xoa thân

Ngửi mùi biết thân kia.

Các trời hoặc đi, ngồi

Dạo chơi và thần biến

Người trì Pháp-Hoa này

Ngửi mùi đều biết được.

Các cây hoa trái hột

Và mùi thơm dầu tô

Người trì kinh ở đây

Đều biết ở chỗ nào.

Các núi, chỗ sâu hiểm

Cây chiên-đàn nở hoa

Chúng sinh ở trong đó

Ngửi mùi đều biết được.

Núi Thiết-vi, biển lớn

Các chúng sinh trong đất

Người trì kinh ngửi mùi

Đều biết đó ở đâu.

Trai gái A-tu-la

Và quyến thuộc của chúng

Lúc đánh cãi, dạo chơi

Ngửi hương đều biết được.

Đồng trống, chỗ hiểm trở

Sư tử, voi, hùm, sói

Bò rừng, trâu nước thảy

Ngửi hương biết chỗ ở.

Nếu có người nghén chửa

Chưa rõ trai hay gái

Không căn và phi nhân

Ngửi mùi đều biết được.

Do vì sức ngửi mùi

Biết người mới nghén chửa

Thành tựu hay chẳng thành

An vui đẻ con phước.

Do vì sức ngửi mùi

Biết tâm niệm trai, gái

Lòng nhiễm dục ngu, hờn

Cũng biết người tu hành

Các phục tàng trong đất

Vàng, bạc, các trân bảo

Đồ đồng chỗ đựng chứa

Nghe nói đều biết được

Các thứ chuỗi ngọc báu

Không ai biết giá mấy

Ngửi mùi biết mắc rẻ

Chỗ sản xuất ở đâu.

Các thứ hoa trên trời

Mạn-đà, mạn-thù-sa

Cây Ba-lợi-chất-đa

Ngửi mùi đều biết được.

Các cung điện trên trời

Thượng, trung, hạ sai khác

Các hoa báu trang nghiêm

Ngửi hương đều biết được.

Thắng điện vườn rừng trời

Các nhà Diệu-Pháp-Đường

Ở trong đó vui chơi

Ngửi mùi đều biết được.

Các trời hoặc nghe pháp

Hoặc lúc hưởng ngũ dục

Lại, qua, đi, ngồi, nằm

Ngửi mùi đều biết được.

Thiên nữ mặc y phục

Hoa hương tốt trang nghiêm

Lúc quanh khắp dạo chơi

Ngửi mùi đều biết được.

Lần lượt lên như thế

Nhẫn đến trời Phạm-Thế

Nhập thiền cùng xuất thiền

Ngửi mùi đều biết được.

Trời Quang-Âm, Biến-Tịnh103

Nhẫn đến trời Hữu-Đảnh

Mới sinh và lui chết

Ngửi hương đều biết được.

Các hàng Tỳ-kheo chúng

Nơi pháp thường tinh tấn

Hoặc ngồi hoặc kinh hành

Và đọc tụng kinh điển

Hoặc ở dưới rừng cây

Chuyên ròng mà ngồi thiền

Người trì kinh ngửi mùi

Đều biết ở tại đâu.

Bồ-Tát chí bền chắc

Ngồi thiền hoặc đọc tụng

Hoặc vì người nói pháp

Ngửi mùi đều biết được.

Nơi nơi chỗ Thế-Tôn

Được mọi người cung kính

Thương chúng mà nói pháp

Ngửi mùi đều biết được.

Chúng sinh ở trước Phật

Nghe kinh đều vui mừng

Đúng pháp mà tu hành

Ngửi mùi đều biết được.

Dầu chưa được vô lậu

Pháp-sinh-tỹ Bồ-Tát

Mà người trì kinh đây

Trước được tướng mũi này.

7.-Lại nữa Thường-Tinh-Tấn! Nếu có thiện-nam-tử, cùng thiện-nữ-nhân thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được một nghìn hai trăm thiệt công đức. Những món hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc ngon, hoặc dở và các vật đắng chát, ở trên lưỡi của người đó, đều biến thành vị ngon như vị cam-lồ trên trời không món nào là chẳng ngon. Nếu được thiệt căn đó ở trong đại chúng nói pháp có chỗ diễn ra tiếng sâu mầu có thể vào tâm chúng, đều làm cho vui mừng sướng thích. Lại các vị thiên-tử, thiên-nữ, các trời Thích, Phạm, nghe tiếng tăm thâm diệu này diễn nói ngôn luận thứ đệ, thảy đều đến nghe. Và các hàng Long, Long- nữ, Dạ-xoa, Dạ-xoa nữ, Càn-thát-bà, Càn- thát-ba nữ, A-tu-la, A-tu-la nữ, Ca-lầu-la, Ca-lầu-la nữ, Khẩn-na-la, Khẩn-na-la nữ, Ma-hầu-la-dà, Ma-hầu-la-dà nữ, vì để nghe pháp mà đều đến gần gũi cung kính cúng dường. Và Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Quốc-vương, Vương-tử, quần thần, quyến thuộc, tiểu Chuyển-luân- vương, đại Chuyển-luân-vương, bảy báu, nghìn người con, cùng quyến thuộc trong ngoài, ngồi cung điện đồng đến nghe pháp. Vì vị Bồ-Tát này khéo nói pháp, nên hàng Bà-la-môn, cư-sĩ, nhân dân trong nước trọn đời theo hầu cúng dường. Lại các Thanh-văn, Bích-chi-Phật, Bồ-Tát các đức Phật thường ưa thấy người đó, người đó ở chỗ nào, các đức Phật đều xoay về phía đó nói pháp, người đó đều hay thọ trì tất cả Phật Pháp, lại có thể nói ra tiếng pháp sâu mầu. Khi đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8.-Người đó lưỡi thanh tịnh

Trọn không thọ vị xấu

Người đó ăn uống chi

Đều biến thành cam-lồ.

Dùng tiếng hay thâm tịnh

Ở trong chúng nói pháp

Đem các nhân duyên dụ

Dẫn dắt lòng chúng sinh

Người nghe đều vui mừng

Bày đồ cúng dường tốt.

Các trời, rồng, Dạ-xoa

Cùng A-tu-la thảy

Đều dùng lòng cung kính

Mà đồng đến nghe pháp

Người nói kinh pháp đó

Nếu muốn dùng tiếng mầu

Khắp cùng cõi Tam-thiên

Tùy ý liền được đến.

Đại, Tiểu Chuyển-luân-vương

Và nghìn con quyến thuộc

Chấp tay lòng cung kính

Thường đến nghe thọ pháp,

Các trời, rồng, Dạ-xoa La-sát, Tỳ-xá-xà

Cũng dùng lòng vui mừng

Thường ưa đến cúng dường,

Phạm-thiên-vương, Ma-vương, Tự-tại, Đại-tự-tại

Các chúng trời như thế

Thường đến chỗ người đó.

Các Phật cùng đệ tử

Nghe người nói tiếng pháp

Thương nhớ giữ gìn cho

Hoặc lúc vì hiện thân.

9.-Lại nữa, Thường-Tinh-Tấn! Nếu có thiện-nam-tử cùng thiện-nữ-nhân thọ trì, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép được tám trăm thân công đức, được thân thanh tịnh như lưu ly sạch chúng sinh ưa thấy. Vì thân đó trong sạch nên chúng sinh trong cõi tam-thiên đại- thiên, lúc sinh lúc chết, trên dưới, tốt xấu, sinh chỗ lành, chỗ dữ v.v..., đều hiện rõ trong đó. Và núi Thiết-vi, núi Đại-thiết-vi, núi Di-lâu, núi Đại-di-lâu..v.v.. các núi cùng chúng sinh ở trong đó đều hiện rõ trong thân, dưới đến địa ngục A-tỳ, trên đến trời Hữu-Đảnh cảnh vật cùng chúng sinh đều hiện rõ trong thân. Hoặc là Thanh- văn, Duyên-giác, Bồ-Tát cùng Chư Phật nói pháp đều hiện sắc tượng ở trong thân. Bấy giờ, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

10.-Nếu người trì Pháp-Hoa

Thân thể rất thanh tịnh

Như lưu ly sạch kia

Chúng sinh đều ưa thấy.

Lại như gương sáng sạch

Đều thấy các sắc tượng

Bồ-Tát nơi tịnh thân

Thấy cả vật trong đời

Chỉ riêng mình thấy rõ

Người khác không thấy được,

Trong cõi nước tam-thiên

Tất cả các chúng sinh

Trời, người, A-tu-la

Địa-ngục, quỷ, súc-sinh

Các sắc tượng như thế

Đều hiện rõ trong thân.

Cung điện của các trời

Nhẫn đến trời Hữu-Đảnh

Núi Thiết-vi, Di-lâu Núi Ma-ha Di-lâu 

Các biển nước lớn thảy

Đều hiện ở trong thân.

Các Phật cùng Thanh-văn

Phật tử Bồ-Tát thảy

Hoặc riêng, hoặc tại chúng

Nói pháp thảy đều hiện.

Dầu chưa được diệu thân

Pháp tánh sạch các lậu

Dùng thân thanh tịnh thường

Tất cả hiện trong đó.

11.-Lại nữa Thường-Tinh-Tấn! Sau khi Đức Như-Lai diệt độ, nếu có người thiện-nam-tử cùng thiện-nữ-nhân thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, thời được một nghìn hai trăm ý công đức. Dùng ý căn thanh tịnh đó nhẫn đến nghe một kệ, một câu, suốt thấu vô lượng, vô biên nghĩa, hiểu nghĩa đó rồi, có thể diễn nói một câu, một kệ đến một tháng, bốn tháng nhẫn đến một năm. Các pháp nói ra tùy nghĩa thú kia đều cùng thật tướng chẳng trái nhau. Nếu nói kinh sách trong đời, lời lẽ trị thế, nghề nghiệp nuôi sống v.v... đều thuận chánh pháp. Sáu đường chúng sinh trong cõi tam-thiên đại-thiên, lòng nghĩ, tưởng, lòng động tác, lòng hý luận, thảy đều biết đó. Dầu chưa được trí huệ vô lậu mà ý căn thanh tịnh như thế, người đó có suy nghĩ, tính lường, nói năng những chi thời đều là Phật pháp cả, không có gì là chẳng chân thật, cũng là lời trong kinh của các Phật thuở trước nói. Bấy giờ, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

12.-Ý người đó thanh tịnh

Sáng lanh không đục nhơ

Dùng ý căn tốt đó

Biết pháp: Thượng, trung, hạ

Nhẫn đến nghe một kệ

Thông đạt vô lượng nghĩa

Thứ đệ nói đúng pháp

Tháng, bốn tháng, đến năm.

Trong ngoài của cõi này

Tất cả các chúng sinh

Hoặc trời rồng và người

Dạ-xoa, quỉ, thần thảy

Kia ở trong sáu đường

Nghĩ tưởng bao nhiêu điều

Phước báo trì Pháp-Hoa

Đồng thời thảy đều biết.

Vô số Phật mười phương

Trăm phước tướng trang nghiêm

Vì chúng sinh nói pháp

Đều nghe hay thọ trì.

Suy gẫm vô lượng nghĩa

Nói pháp cũng vô lượng

Sau trước chẳng quên lộn

Bởi thọ trì Pháp-Hoa

Trọn biết các pháp tướng

Theo nghĩa rõ thứ đệ

Suốt danh tự ngữ ngôn

Như chỗ biết diễn nói.

Người đó có nói ra

Là pháp của Phật trước

Vì diễn nói pháp này

Ở trong chúng không sợ.

Người trì kinh Pháp-Hoa

Ý căn tịnh như thế

Dầu chưa được vô lậu

Trước có tướng dường ấy.

Người đó trì kinh này

An trụ bậc hy hữu

Được tất cả chúng sinh

Vui mừng mà mến kính.

Hay dùng nghìn muôn ức

Lời lẽ rất hay khéo

Phân biệt mà nói pháp

Bởi trì kinh Pháp-Hoa.

 

Thích Nghĩa

  1. 101.Vô-gián địa-ngục, người ở trong địa-ngục này một ngày một đêm muôn lần chết muôn lần sống, bị khổ hình không có giây phút nào ngớt nghỉ nên gọi là Vô-gián.
  2. 102.Cõi trời cùng tột, cũng là chót của ba cõi.
  3. 103.Quang-âm-thiên là một trong ba từng trời nhị-thiền, cũng là từng thứ ba, Biến-tịch-thiên là một trong ba từng tam-thiền, cũng là từng thứ ba.

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “THƯỜNG BẤT KHINH BỒ TÁT” THỨ HAI MƯƠI

1.-Lúc bấy giờ, Phật bảo ngài đại Bồ- Tát Đắc-Đại-Thế rằng: “Ông nay nên biết! Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di nào thọ trì kinh Pháp Hoa này được công đức như trước đã nói, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân cùng ý thanh tịnh, như có người nói lời thô ác mắng nhiếc chê bai, mắc tội báo lớn cũng như trước đã nói.

2.-Đắc Đại Thế! Về thuở xưa quá vô lượng vô biên bất-khả tư-nghì, vô số kiếp, có Phật hiệu là Oai-Âm-Vương Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh- túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng- sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân- Sư, Phật Thế-Tôn. Kiếp đó tên là Ly-Suy, nước đó tên là Đại-Thành. Đức Oai-Âm-Vương Phật trong đời đó vì hàng trời, người, A-tu-la mà nói pháp, vì người cầu Thanh-văn mà nói pháp Tứ-Đế, thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết, rốt ráo Niết-bàn; vì người cầu Bích-chi-Phật mà nói pháp mười hai nhân duyên; vì các Bồ-Tát nhân vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác mà nói sáu pháp ba-la-mật, rốt ráo trí huệ của Phật. Đắc-Đại-Thế! Đức Oai Âm Vương Phật đó sống lâu bốn mươi vạn ức na-do- tha hằng-hà-sa kiếp: Chánh pháp trụ ở đời kiếp số như vi trần trong một Diêm- phù-đề; tượng pháp trụ ở đời kiếp số như số vi trần trong bốn châu thiên hạ. Đức Phật đó lợi ích chúng sinh, vậy sau mới diệt độ. Sau khi chánh-pháp tượng-pháp diệt hết, trong cõi nước đó lại có Phật ra đời, cũng hiệu là Oai-Âm-Vương, Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn, cứ thứ lớp như thế có hai muôn ức đức Phật đều đồng một hiệu.

3.-Đức Oai-Âm-Vương Như-Lai, đầu hết diệt độ rồi, sau lúc chánh pháp đã diệt trong đời tượng pháp những Tỳ-kheo tăng-thượng-mạn có thế lực lớn. Bấy giờ, có vị Bồ-Tát Tỳ-kheo tên Thường-Bất-Khinh. Đắc-Đại-Thế! Vì cớ gì tên là Thường-Bất-Khinh? Vì vị Tỳ-kheo đó phàm khi ngó thấy hoặc Tỳ-kheo, Tỳ- kheo-ni, hoặc Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, thảy đều lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: “Tôi rất kính quý Ngài chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì quý Ngài đều tu hành đạo Bồ-Tát sẽ được làm Phật.” Mà vị Tỳ-kheo đó chẳng chuyên đọc tụng kinh điển, chỉ đi lễ lạy, nhẫn đến xa thấy hàng tứ chúng, cũng cố qua lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: “Tôi chẳng dám khinh quý Ngài, quý Ngài đều sẽ làm Phật.” Trong hàng tứ chúng có người lòng bất tịnh sinh giận hờn, buông lời ác mắng nhiếc rằng: “Ông vô trí Tỳ-kheo này từ đâu đến đây tự nói ta chẳng khinh Ngài, mà thọ ký cho chúng ta sẽ được làm Phật, chúng ta chẳng dùng lời thọ ký hư dối như thế.” Trải qua nhiều năm như vậy, thường bị mắng nhiếc chẳng sinh lòng giận hờn, thường nói: “Ngài sẽ làm Phật”. Lúc nói lời nói, chúng nhân hoặc lấy gậy cây ngói đá để đánh ném. Ông liền chạy tránh đứng xa mà vẫn to tiếng xướng rằng: “Ta chẳng dám khinh quý Ngài, quý Ngài đều sẽ thành Phật.” Bởi ông thường nói lời đó, nên hàng tăng-thượng-mạn Tỳ-kheo, Tỳ- kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di gọi ông là Thường-Bất-Khinh.

4.-Vị Tỳ-kheo đó lúc sắp chết, nơi giữa hư không nghe trọn hai mươi nghìn muôn ức bài kệ kinh Pháp-Hoa của đức Oai- Âm-Vương Phật đã nói thuở trước, nghe xong đều có thể thọ trì, liền được nhãn căn thanh tịnh, nhĩ, tỹ, thiệt, thân cùng ý căn thanh tịnh như trên. Được sáu căn thanh tịnh đó rồi lại sống thêm hai trăm muôn ức na do tha tuổi, rộng vì người nói kinh Pháp Hoa đó. Lúc đó hàng tăng-thượng-mạn Tỳ- kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, khinh tiện vị đó đặt cho tên “Bất-Khinh” nay, thấy vị đó được sức thần thông lớn, sức nhạo thuyết biện, sức đại-thiện-tịch104 nghe vị đó nói pháp đều tin phục tùy tùng. Vị Bồ-Tát đó giáo hoá nghìn muôn chúng khiến trụ trong vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác. Sau khi mạng chung được gặp hai nghìn ức Phật đều hiệu Nhật-Nguyệt-Đăng-Minh, ở trong pháp hội đó nói kinh Pháp-Hoa này. Do nhân duyên đó lại gặp hai nghìn ức Phật đồng hiệu là Vân-Tự-Tại-Đăng-Vương, ở trong pháp hội của các đức Phật đó thọ trì, đọc tụng, vì hàng tứ chúng nói kinh điển này, cho nên được mắt thanh tịnh thường trên đó, tai mũi lưỡi thân cùng ý các căn thanh tịnh, ở bốn chúng nói pháp lòng không sợ sệt. Đắc-Đại-Thế! Vị Thường-Bất-Khinh đại Bồ-Tát đó cúng dường, bao nhiêu đức Phật như thế, cung kính tôn trọng ngợi khen, trồng các gốc lành. Lúc sau lại gặp nghìn muôn ức Phật cũng ở trong pháp hội các đức Phật nói kinh điển này, công đức thành tựu sẽ được làm Phật.

5.-Đắc-Đại-Thế! Ý ông nghĩ sao? Thường Bất Khinh Bồ Tát thuở đó đâu phải người nào lạ, chính là thân Ta. Nếu Ta ở đời trước chẳng thọ trì đọc tụng kinh này, vì người khác giải nói đó, thời chẳng có thể mau được vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Do Ta ở chỗ các đức Phật thuở trước thọ trì đọc tụng kinh này vì người khác nói, nên mau được vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.

6.-Đắc-Đại-Thế! Thuở đó bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, do lòng giận hờn khinh tiện Ta, nên trong hai trăm ức kiếp thường chẳng gặp Phật, chẳng nghe pháp, chẳng thấy Tăng, nghìn kiếp ở địa ngục A-tỳ chịu khổ não lớn. Hết tội đó rồi lại gặp Thường-Bất-Khinh Bồ- Tát giáo hóa đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Đắc-Đại-Thế! Ý ông nghĩ sao? Bốn chúng thường khinh vị Bồ-Tát thuở đó đâu phải người nào lạ chính là nay trong hội này bọn ông Bạt-Đà-Bà-La năm trăm vị Bồ-Tát, bọn ông Sư-Tử-Nguyệt năm trăm vị Tỳ-kheo, bọn ông Ni-Tư-Phật năm trăm Ưu-bà-tắc, đều bất thối chuyển ở nơi đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Đắc-Đại-Thế! Phải biết kinh Pháp-Hoa này rất lợi ích các vị đại Bồ-Tát, có thể làm cho đến nơi đạo vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác. Cho nên các vị đại Bồ-Tát sau khi Phật diệt độ phải thường thọ trì đọc tụng, giải nói, biên chép kinh này. Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

7.- Thuở quá khứ có

Phật Hiệu là Oai-Âm-Vương

Sức trí thần vô lượng

Dìu dắt tất cả chúng

Hàng, trời, người, long, thần,

Đều chung nhau cúng dường.

Sau khi Phật diệt độ

Lúc pháp muốn dứt hết

Có một vị Bồ-Tát

Tên là Thường-Bất-Khinh.

Bấy giờ hàng tứ chúng

Chấp mê nơi các pháp

Thường-Bất-Khinh Bồ-Tát

Qua đến chỗ của họ

Mà nói với đó rằng:

Ta chẳng dám khinh

Ngài Quý Ngài tu đạo nghiệp

Đều sẽ được làm Phật.

Những người đó nghe rồi

Khinh chê thêm mắng nhiếc

Thường-Bất-Khinh Bồ-Tát Đều hay nhẫn thọ đó.

Tội Bồ-Tát hết rồi

Đến lúc gần mạng chung

Được nghe kinh pháp này

Sáu căn đều thanh tịnh

Vì sức thần thông vậy

Sống lâu thêm nhiều tuổi

Lại vì các hạng người

Rộng nói kinh pháp này.

Các chúng chấp nói pháp

Đều nhờ Bồ-Tát đó

Giáo hóa được thành tựu

Khiến trụ nơi Phật đạo.

Thường-Bất-Khinh mạng chung

Gặp vô số đức Phật

Vì nói kinh này vậy

Được vô lượng phúc đức

Lần lần đủ công đức

Mau chứng thành Phật đạo.

Thuở đó Thường-Bất-Khinh

Thời chính là thân Ta

Bốn bộ chúng khi ấy

Những người chấp nơi pháp

Nghe Thường-Bất-Khinh nói:

Ngài sẽ được làm Phật

Do nhờ nhân duyên đó

Mà gặp vô số Phật,

Chính trong pháp hội này

Năm trăm chúng Bồ-Tát

Và cùng bốn bộ chúng

Thanh tín nam nữ thảy

Nay ở nơi trước Ta

Nghe kinh Pháp-Hoa đó.

Ta ở trong đời trước

Khuyên những hạng người đó

Nghe thọ kinh Pháp-Hoa

Là pháp bậc thứ nhất

Mở bày dạy cho người

Khiến trụ nơi Niết-bàn

Đời đời thọ trì luôn

Những kinh điển như thế.

Trải ức ức muôn kiếp

Cho đến bất-khả-nghì

Lâu lắm mới nghe được

Kinh Diệu-Pháp-Hoa này,

Trải ức ức muôn kiếp

Cho đến bất-khả-nghì

Các đức Phật Thế-Tôn

Lâu mới nói kinh này

Cho nên người tu hành

Sau khi Phật diệt độ

Nghe kinh pháp như thế

Chớ sinh lòng nghi hoặc.

Nên phải chuyên một lòng

Rộng nói kinh điển này

Đời đời được gặp Phật

Mau chứng thành Phật đạo.

 

Thích Nghĩa

104.Thiện: lành; Tịch: vắng bặt. Tức là môn thiền định vô lậu lớn.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “NHƯ-LAI THẦN-LỰC” THỨ HAI MƯƠI MỐT

1.- Lúc bấy giờ, các vị đại Bồ-Tát như số vi trần trong nghìn thế giới từ dưới đất vọt lên đó, đều ở trước đức Phật một lòng chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mà bạch cùng Phật rằng: “Thế Tôn! Sau khi Phật diệt độ, ở nơi cõi nước của đức Thế-Tôn phân thân diệt độ, chúng con sẽ rộng nói kinh này. Vì sao? Chúng con cũng tự muốn được pháp lớn thanh tịnh này để thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép mà cúng dường đó.”

2.- Lúc đó, Thế-Tôn ở trước ngài Văn- Thù Sư-Lợi v.v... vô lượng trăm nghìn muôn ức vị đại Bồ-Tát cửu trụ ở nơi cõi Ta-bà và các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà- tắc, Ưu-bà-di, trời, rồng, Dạ-xoa, Càn- thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhân, phi-nhân v.v.. trước tất cả chúng, hiện sức thần thông lớn: bày tướng lưỡi rộng dài lên đến trời Phạm-thế, tất cả lỗ chân lông phóng ra vô lượng vô số tia sáng đủ màu sắc, thảy đều khắp soi cả cõi nước trong mười phương. Các đức Phật ngồi trên tòa sư-tử dưới cây báu cũng lại như thế: Bày tướng lưỡi rộng dài phóng vô lượng tia sáng. Lúc đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật và các đức Phật dưới cây báu hiện sức thần thông mãn trăm nghìn năm vậy sau mới hoàn nhiếp tướng lưỡi, đồng thời tằng hắng cùng chung khảy móng tay, hai tiếng vang đó khắp đến cõi nước của các đức Phật trong mười phương, đất đều sáu điệu vang động, chúng sinh trong đó: Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca- lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhân cùng phi-nhân v.v.. nhờ sức thần của Phật đều thấy trong cõi Ta-bà này vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức các đức Phật ngồi trên tòa sư-tử dưới những cây báu và thấy đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật cùng đức Đa-Bảo Như-Lai, ngồi trên tòa sư-tử trong tháp báu. Lại thấy vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vị đại Bồ-Tát và hàng tứ chúng cung kính vây quanh đức Thích-Ca Mâu- Ni Phật, đã thấy thế rồi đều rất vui mừng được điều chưa từng có.

Tức thời hàng chư thiên ở giữa hư không lớn tiếng xướng rằng: “Cách đây vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vô số thế giới có nước tên Ta-bà trong đó có Phật hiệu Thích-Ca Mâu-Ni hiện nay vì các đại Bồ-Tát nói kinh Đại-thừa tên ‘Diệu-Pháp Liên-Hoa’ là pháp giáo hóa Bồ-Tát được Chư Phật hộ niệm, các ông phải thâm tâm tùy hỷ, cũng nên lễ bái cúng dường đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật.” Các chúng sinh đó nghe tiếng nói giữa hư không rồi, chấp tay xoay về cõi Ta-bà nói thế này: “Nam-mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật, Nam-mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật.”. Dùng các món hoa hương, chuỗi ngọc, phan lọng và các đồ trang nghiêm nơi thân, những vật tốt bằng trân báu, đều đồng vói rải vào cõi Ta-bà. Các vật rải đó từ mười phương đến thí như mây nhóm, biến thành màn báu trùm khắp trên các đức Phật ở trong đây. Bấy giờ mười phương cõi nước thông đạt không ngại như một cõi Phật.

4.- Khi đó, Phật bảo đại chúng bậc thượng hạnh Bồ-Tát thảy: “Thần lực của các đức Phật vô lượng vô biên bất-khả tư- nghì như thế; nếu ta dùng thần lực đó trong vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vô số kiếp, vì để chúc lũy mà nói công đức của kinh này vẫn chẳng hết được. Tóm nói đó, tất cả pháp của Như-Lai có, tất cả thần lực tự tại của Như-Lai, tất cả tạng bí yếu của Như-Lai, tất cả việc rất sâu của Như-Lai, đều tuyên bày rõ nói trong kinh này, cho nên các ông sau khi Như-Lai diệt độ, phải một lòng thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời nói mà tu hành. Cõi nước chỗ nào nếu có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành, hoặc là chỗ có quyển kinh, hoặc trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc dưới cây, hoặc Tăng phường, hoặc nhà bạch y 105 hoặc ở điện đường, hoặc núi hang đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường. Vì sao? Phải biết chỗ đó, chính là đạo tràng, các đức Phật ở đây mà được vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác, các đức Phật ở đây mà chuyển Pháp-luân, các đức Phật ở đây mà nhập Niết-bàn.” Lúc đó, đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

5.- Các Phật, đấng cứu thế

Trụ trong thần thông lớn

Vì vui đẹp chúng sinh

Hiện vô lượng thần lực:

Tướng lưỡi đến Phạm-thiên

Thân phóng vô số quang

Vì người cầu Phật đạo

Hiện việc ít có này.

Tiếng tằng hắng của Phật

Cùng tiếng khảy móng tay

Khắp vang mười phương cõi

Đất đều sáu món động.

Sau khi Phật diệt độ

Người trì được kinh này

Các Phật đều vui mừng

Hiện vô lượng thần lực.

Vì chúc lũy kinh này

Khen ngợi người thọ trì

Ở trong vô lượng kiếp

Vẫn còn chẳng hết được.

Công đức của người đó

Vô biên vô cùng tận

Như mười phương hư không

Chẳng thể được ngằn mé.

Người trì được kinh này

Thời là đã thấy Ta

Cũng thấy Phật Đa-Bảo

Và các Phật phân thân.

Lại thấy Ta ngày nay

Giáo hóa các Bồ-Tát

Người trì được kinh này

Khiến Ta và phân thân

Phật Đa-Bảo diệt độ

Tất cả đều vui mừng.

Mười phương Phật hiện tại

Cùng quá khứ vị lai

Cũng thấy cũng cúng dường

Cũng khiến được vui mừng.

Các Phật ngồi đạo tràng

Pháp bí yếu đã được.

Người trì đọc kinh này

Chẳng lâu cũng sẽ được

Người trì được kinh này

Nơi nghĩa của các pháp

Danh tự và lời lẽ

Ưa nói không cùng tận.

Như gió trong hư không

Tất cả không chướng ngại.

Sau khi Như-Lai diệt

Biết kinh của Phật nói

Nhân duyên và thứ đệ

Theo nghĩa nói như thật.

Như ánh sáng nhật nguyệt

Hay trừ các tối tăm

Người đó đi trong đời

Hay dứt tối chúng sinh

Dạy vô lượng Bồ-Tát

Rốt ráo trụ nhứt thừa.

Cho nên người có trí

Nghe công đức lợi này

Sau khi Ta diệt độ

Nên thọ trì kinh này

Người đó ở Phật đạo

Quyết định không có nghi.

 

Thích Nghĩa

105 105.Người thế tục ưa mặc y phục sắc trắng nên gọi là “bạch-y”.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “CHÚC LỤY”

THỨ HAI MƯƠI HAI

1.- Lúc bấy giờ, đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật từ nơi pháp tòa đứng dậy, hiện sức thần thông lớn: dùng tay mặt xoa đảnh của vô lượng đại Bồ-Tát mà nói rằng: “Ta ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức vô số kiếp tu tập pháp vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác khó được này, nay đem phó chúc cho các ông, các ông nên phải một lòng lưu bố pháp này làm cho thêm nhiều rộng.” Phật ba phen xoa đảnh các đại Bồ-Tát như thế mà nói rằng: “Ta ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức vô số kiếp tu tập pháp vô-thượng chánh-đẳng chánh- giác khó được này, nay đem phó chúc cho các ông; các ông phải thọ trì, đọc tụng rộng tuyên nói pháp này cho tất cả chúng sinh đều được nghe biết.” Vì sao? Đức Như Lai có lòng từ bi lớn, không có tánh bỏn sẻn, cũng không sợ sệt, có thể cho chúng sinh trí huệ của Phật, trí huệ của Như-Lai, trí huệ tự nhiên. Như- Lai là vị đại thí chủ cho tất cả chúng sinh, các ông cũng nên thọ học pháp của Như- Lai, chớ sinh lòng bỏn sẻn. Ở đời vị lai nếu có người thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân nào tin trí huệ của Như-Lai, thời các ông phải vì đó diễn nói kinh Diệu-Pháp Liên- Hoa này khiến đều được nghe biết, vì muốn cho người đó được trí huệ của Phật vậy. Nếu có chúng sinh nào chẳng tin nhận thì phải ở trong pháp sâu khác của Như- Lai chỉ dạy cho được lợi ích vui mừng, các ông nếu được như thế thì là đã báo được ơn của các đức Phật.

2.- Lúc đó, các vị đại Bồ-Tát nghe Phật nói thế rồi, đều rất vui mừng khắp đầy nơi thân càng thêm cung kính, nghiêng mình cúi đầu chấp tay hướng Phật, đồng lên tiếng bạch rằng: “Như lời Thế-Tôn dạy, chúng con sẽ vâng làm đầy đủ, kính xin Thế-Tôn chớ có lo.” Các chúng đại Bồ-Tát ba phen như thế, đều lên tiếng bạch rằng: “Như lời Thế- Tôn dạy, chúng con sẽ vâng làm đầy đủ, kính xin đức Thế-Tôn chớ có lo.”

Khi đó đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật khiến các đức Phật phân thân ở mười phương đến, đều trở về bổn độ mà nói rằng: “Các Phật đều về yên chỗ, tháp của Phật Đa-Bảo được hoàn như cũ.”

3.- Phật nói lời đó rồi, vô lượng các đức Phật phân thân ở mười phương ngồi trên tòa sư-tử dưới cây báu, và Phật Đa-Bảo, cùng vô biên vô số đại chúng Bồ-tát, bậc thượng hạnh thảy, ngài Xá-Lợi-Phất v.v.. bốn chúng hàng Thanh-văn và tất cả trong đời: Trời, người, A-tu-la v.v... nghe Phật nói rồi đều rất vui mừng.

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “DƯỢC VƯƠNG BỒ TÁT BỔN SỰ” THỨ HAI MƯƠI BA

1.- Lúc bấy giờ, ngài Tú-Vương-Hoa Bồ-Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Ngài Dược-Vương Bồ-Tát dạo đi nơi cõi Ta-bà như thế nào? Thế Tôn! Ngài Dược-Vương Bồ-Tát đó, có bao nhiêu nghìn muôn ức na-do-tha hạnh khổ khó làm? Hay thay Thế Tôn! Nguyện giải, nói cho một ít, các hàng trời, rồng, thần, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu- la-dà, nhân, cùng phi-nhân v.v.. và các vị Bồ-Tát ở các nước khác đến, cùng chúng Thanh-văn đây nghe đều vui mừng.”

2.- Lúc đó, Phật bảo ngài Tú-Vương- Hoa Bồ-Tát rằng: “Về thuở quá khứ vô lượng hằng-hà-sa kiếp trước, có Phật hiệu Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh-Đức Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều ngự trượng-phu, Thiên-Nhân Sư, Phật Thế-Tôn. Phật đó có tám mươi ức đại Bồ-Tát, bảy mươi hai hằng-hà-sa chúng đại Thanh-văn. Phật sống lâu bốn muôn hai nghìn kiếp, Bồ-Tát sống lâu cũng bằng Phật. Nước đó không có người nữ, điạ- ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh, A tu la v.v... và với các khổ nạn. Đất bằng như bàn tay, chất lưu ly làm thành, cây báu trang nghiêm, màn báu trùm lên, thòng các phan báu đẹp, bình báu, lò hương khắp cùng cả nước, bảy món báu làm đài, một cây có một đài, cây đó cách đài đều một lằn tên. Các cây báu đó đều có Bồ-Tát, Thanh-văn ngồi ở dưới. Trên các đài báu đều có trăm ức chư thiên trổi kỹ nhạc trời, ca khen đức Phật để làm việc cúng dường.

3.- Bấy giờ, đức Phật đó vì ngài Nhứt- Thiết Chúng-Sinh Hỷ-Kiến Bồ-Tát cùng chúng Bồ-Tát và chúng Thanh-văn nói kinh Pháp-Hoa. Ngài Nhứt-Thiết Chúng-Sinh Hỷ-Kiến Bồ-Tát đó ưa tu tập khổ hạnh, ở trong pháp hội của đức Nhật-Nguyệt-Tịnh- Minh-Đức Phật, tinh tấn kinh hành, một lòng cầu thành Phật, mãn một muôn hai nghìn năm được “Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội”. Được tam muội đó rồi lòng rất vui mừng, liền nghĩ rằng: “Ta được ‘Hiện- nhứt-thiết-sắc-thân-tam-muội’ này đều là do sức được nghe kinh Pháp-Hoa, ta nay nên cúng dường Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh- Đức Phật và kinh Pháp-Hoa.” Tức thời nhập tam muội đó, ở giữa hư không rưới hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, cùng bột kiên-hắc chiên-đàn đầy trong hư không như mây mà rưới xuống. Lại rưới hương hải-thử-ngạn chiên-đàn, sáu thù106 hương này giá trị cõi Ta-bà để cúng dường Phật. Cúng dường thế đó rồi, từ tam-muội dậy mà tự nghĩ rằng: “Ta dầu dùng thần lực cúng dường nơi Phật, chẳng bằng dùng thân cúng dường.” Liền uống các chất thơm; chiên-đàn, huân-lục, đâu-lâu- bà, tất-lực-ca, trầm-thủy-giao-hương; lại uống dầu thơm các thứ hoa chiên-bặc v.v.. mãn một nghìn hai trăm năm, rồi lấy dầu thơm xoa thân ở trước đức Nhật-Nguyệt- Tịnh-Minh-Đức Phật dùng y báu cõi trời mà tự quấn thân, rưới các thứ dầu thơm, dùng sức nguyện thần thông mà tự đốt thân. Ánh sáng khắp soi cả tám mươi ức hằng-hà-sa thế giới, các đức Phật trong đó đồng thời khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Thiện-nam-tử! Đó là chân thật tinh tấn gọi là chân pháp cúng dường Như-Lai. Nếu dùng hoa hương chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột, hương xoa, phan, lọng, bằng lụa cõi trời và hương hải-thử-ngạn chiên-đàn, dùng các món vật cúng dường như thế đều chẳng bằng được. Giả sử quốc thành thê tử bố thí cũng chẳng bằng. Thiện-nam-tử! Đó gọi là món thí thứ nhất, ở trong các món thí rất tôn rất thượng, bởi dùng pháp cúng dường các đức Như-Lai vậy”, các đức Phật nói lời đó rồi đều yên lặng. Thân của Bồ-Tát lửa cháy một nghìn hai trăm năm, qua sau đó lúc đó thân Bồ-Tát mới hết.

5.- Ngài Nhứt-Thiết-Chúng-Sinh Hỷ- Kiến Bồ-Tát làm việc pháp cúng dường như thế xong, sau khi mạng chung, lại sinh trong nước của Nhật-Nguyệt-Tịnh- Minh-Đức Phật, ở nơi nhà vua Tịnh-Đức bỗng nhiên ngồi xếp bằng hóa sinh ra, liền vì vua cha mà nói kệ rằng:

Đại vương nay nên biết!

Tôi kinh hành chốn kia

Tức thời được nhứt thiết

Hiện chư thân tam-muội

Siêng tu rất tinh tấn

Bỏ thân thể đáng yêu

Cúng dường đức Thế-Tôn

Để cầu huệ vô thượng.

Nói kệ đó rồi thưa vua cha rằng: “Đức Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh-Đức Phật nay vẫn hiện còn, tôi trước cúng dường Phật xong, được ‘Giải-nhứt-thiết chúng-sinh ngữ-ngôn đà-la-ni’ lại nghe kinh Pháp- Hoa này tám trăm nghìn muôn ức na-do- tha, chân-ca-la, tần-bà-la, a-súc-bà107 các bài kệ. Đại-Vương! Tôi nay lại nên cúng dường đức Phật đó.” Thưa xong, liền ngồi đài bảy báu, bay lên hư không, cao bằng bảy cây đa-la, qua đến chỗ Phật đầu mặt lạy chân, chấp tay nói kệ khen Phật:

Dung nhan rất đẹp lạ

Ánh sáng soi mười phương

Con vừa từng cúng dường

Nay lại về thân thấy.

5.- Lúc đó, ngài Nhứt-Thiết-Chúng- Sinh-Hỷ-Kiến Bồ-Tát nói kệ xong mà bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Đức Thế-Tôn vẫn còn ở đời ư?” Bấy giờ, đức Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh- Đức Phật bảo ngài Nhứt-Thiết-Chúng- Sinh-Hỷ-Kiến Bồ-Tát rằng: “Thiện-nam- tử! Giờ ta nhập Niết-bàn đã đến, giờ diệt tận đã đến, ông nên sắp đặt giường tòa. Ta trong đêm nay sẽ nhập Niết-bàn.” Phật lại bảo ngài Nhứt-Thiết-Chúng- Sinh-Hỷ-Kiến Bồ-Tát rằng: “Thiện-nam- tử! Ta đem Phật pháp giao phó cho ông, và các Bồ-Tát đại đệ tử cùng pháp vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác, cũng đem cõi thất bảo tam-thiên đại-thiên, các cây báu, đài báu và hàng chư thiên cung cấp hầu hạ đều giao phó cho ông. Sau khi ta diệt độ có bao nhiêu xá-lợi cũng phó chúc cho ông, nên làm lưu bố rộng bày các việc cúng dường, nên xây bao nhiêu nghìn tháp.” Đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật bảo ngài Nhứt Thiết chúng sinh Hỷ Kiến Bồ Tát như thế rồi, vào khoảng cuối đêm nhập Niết-bàn.

6.- Lúc đó, Ngài Nhứt Thiết chúng sinh Hỷ Kiến Bồ Tát thấy Phật diệt độ buồn cảm sầu khổ, luyến mộ nơi Phật, liền dùng hải-thử-ngạn chiên-đàn làm giàn để cúng dường thân Phật mà thiêu đó. Sau khi lửa tắt, thâu lấy xá-lợi đựng trong tám muôn bốn nghìn bình báu, để xây tám muôn bốn nghìn tháp cao ba thế giới, chưng dọn trang nghiêm thòng các phan lọng treo các linh báu. Bấy giờ, Ngài Nhứt Thiết chúng sinh Hỷ Kiến Bồ Tát lại tự nghĩ rằng: “Ta dầu làm việc cúng dường đó lòng còn chưa đủ, ta nay lại nên cúng dường xá-lợi.” Liền nói với các Bồ-Tát đại đệ tử và trời, rồng, Dạ-xoa v.v..., tất cả đại chúng rằng: “Các ông phải một lòng ghi nhớ, tôi nay cúng dường xá-lợi của đức Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh-Đức Phật.” Nói xong liền ở trước tám muôn bốn nghìn tháp đốt cánh tay trăm phước trang nghiêm, mãn bảy muôn hai nghìn năm để cúng dường. Khiến vô số chúng cầu Thanh-văn, vô lượng vô số người phát tâm vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, đều làm cho trụ trong “Hiện- nhứt-thiết-sắc-thân tam-muội”.

Lúc đó, các Bồ-Tát, trời, người, A-tu-la v.v.., thấy Ngài không có tay bèn sầu khổ buồn thương mà nói rằng: “Ngài Nhứt- Thiết-Chúng-Sinh-Hỷ-Kiến Bồ-Tát này là thầy chúng ta, giáo hóa chúng ta, mà nay đốt tay, thân chẳng đầy đủ.” Lúc ấy, Ngài Nhứt-Thiết-Chúng-Sinh- Hỷ-Kiến Bồ-Tát ở trong đại chúng lập lời thề rằng: “Tôi bỏ hai tay ắt sẽ được thân sắc vàng của Phật, nếu thật không dối, thời khiến hai tay tôi hoàn phục như cũ.” Nói lời thề xong, hai tay tự nhiên hoàn phục, đó là do phúc đức trí huệ thuần hậu của Bồ tát cảm nên. Đương lúc đó cõi tam-thiên đại-thiên thế giới sáu điệu vang động, trời rưới hoa báu, tất cả người, trời được việc chưa từng có.

7.- Đức Phật bảo ngài Tú-Vương-Hoa Bồ-Tát: “Ý ông nghĩ sao? Nhứt Thiết chúng sinh Hỷ Kiến Bồ-Tát đâu phải người nào lạ, chính nay là ông Dược- Vương Bồ-Tát đó. Ông ấy bỏ thân số nhiều vô lượng trăm nghìn muôn ức na- do-tha như thế. Tú-Vương-Hoa! Nếu người phát tâm muốn được đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, có thể đốt một ngón tay nhẫn đến một ngón chân để cúng dường tháp của Phật, hơn đem quốc thành, thê tử và cõi tam-thiên đại-thiên: Núi, rừng, sông, ao, các vật trân báu mà cúng dường. Nếu lại có người đem bảy thứ báu đầy cả cõi tam-thiên đại-thiên cúng dường nơi Phật, cùng đại Bồ-Tát, Duyên-giác và A- la-hán, công đức của người đó được, chẳng bằng người thọ trì kinh Pháp-Hoa này nhẫn đến một bài kệ bốn câu, phước của người này rất nhiều.

8.- Tú-Vương-Hoa! Thí như trong các dòng nước: Sông, ngòi, kinh, rạch, thời biển là lớn thứ nhất; kinh Pháp-Hoa này cũng như thế, ở trong các kinh của đức Như-Lai nói rất là sâu lớn. Lại như trong các núi non: Thổ sơn, Hắc sơn, núi tiểu Thiết-vi, núi đại Thiết-vi, cùng mười núi báu thời núi Diệu-Cao bậc nhất, kinh Pháp-Hoa này cũng như thế, ở trong các kinh rất là bậc thượng. Lại như trong các ngôi sao, mặt trăng là bậc nhất, kinh Pháp-Hoa này cũng như thế, ở trong nghìn muôn ức các kinh pháp rất là sáng. Lại như mặt trời hay trừ các chỗ tối tăm, kinh này cũng như thế, hay phá tất cả sự tối bất thiện. Lại như trong các vua nhỏ, vua Chuyển-luân-thánh-vương rất là bậc nhất, kinh này cũng như thế ở trong các kinh là bậc tôn kính hơn cả. Lại như Đế-Thích là vua trong ba mươi ba cõi trời108, kinh này cũng thế, là vua trong các kinh. Lại như trời đại Phạm-thiên-vương là cha của tất cả chúng sinh, kinh này cũng thế, là cha của tất cả hiền thánh: Bậc hữu- học, vô-học cùng hàng phát lòng Bồ-đề. Lại như trong tất cả phàm phu thời bậc Dự-lưu, Nhất-lai, Bất-lai, Vô-sinh, Duyên-giác109, là bậc nhất. Kinh này cũng thế, tất cả Như-Lai nói, hoặc Bồ-Tát nói, hoặc Thanh-văn nói, trong các kinh pháp là bậc nhất hơn cả, có người thọ trì được kinh điển này cũng lại như thế, ở trong tất cả chúng sinh cũng là bậc nhất. Trong tất cả Thanh-văn cùng Duyên- giác, Bồ-Tát là bậc nhất, kinh này cũng thế trong tất cả các kinh pháp rất là bậc nhất.

Như Phật là vua của các pháp, kinh này cũng thế là vua của các kinh.

9.- Tú-Vương-Hoa! Kinh này có thể cứu tất cả chúng sinh, kinh này có thể làm cho tất cả chúng sinh xa rời các khổ não, kinh này có thể lợi ích cho tất cả chúng sinh, đầy mãn chỗ mong cầu của chúng như ao nước trong mát có thể đầy đủ cho những người khát nước, như kẻ lạnh được lửa, như kẻ trần truồng được y phục, như người buôn được chủ110, như con gặp mẹ, như qua sông gặp thuyền, như người bệnh gặp thầy thuốc, như tối được đèn, như nghèo gặp của báu, như dân gặp vua111, như khách được biển112, như đuốc trừ tối. Kinh Pháp-Hoa này cũng thế, có thể làm cho chúng sinh xa rời tất cả khổ, tất cả bệnh tật đau đớn, có thể mở sự trăng trói của tất cả sinh tử. Nếu người được nghe kinh Pháp-Hoa này, hoặc chép hoặc bảo người chép, được công đức, dùng trí huệ của Phật tính lường nhiều ít chẳng thể được ngằn mé đó. Nếu chép kinh sách này dùng hoa, hương, chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột, hương xoa, phan, lọng, y phục, các thứ đèn: Đèn nến, đèn dầu, các thứ đèn dầu thơm, đèn dầu chiêm-bặc, đèn dầu tu-mạn-na, đèn dầu ba-la-la, đèn dầu bà-lợi-sư-ca, đèn dầu na-bà-ma-lợi đem cúng dường được công đức cũng là vô lượng. 

10.- Tú-Vương-Hoa! Nếu có người nghe phẩm “Dược-Vương Bồ-Tát Bổn- Sự” này cũng được vô lượng vô biên công đức. Nếu có người nữ nghe phẩm “Dược- Vương Bồ-Tát Bổn-Sự” này mà có thể thọ trì, thì sau khi dứt báo thân đàn bà đó không còn thọ lại nữa. Sau khi Như-Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người nữ nghe kinh điển này, đúng như lời mà tu hành, thì khi ở đây chết liền qua cõi An-Lạc, chỗ trụ xứ của đức A-Di-Đà-Phật113 cùng chúng đại Bồ-Tát vây quanh, mà sinh trên tòa báu trong hoa sen. Chẳng còn bị lòng tham dục làm khổ cũng lại chẳng bị lòng giận dỗi, ngu si làm khổ, cũng lại chẳng bị lòng kiêu mạn ghen ghét các tánh nhơ làm khổ, được thần thông vô-sinh pháp-nhẫn của Bồ-Tát, được pháp-nhẫn đó thì nhãn căn thanh tịnh. Do nhãn căn thanh tịnh đó thấy bảy trăm muôn hai nghìn ức na-do-tha hằng- hà-sa các đức Phật Như-Lai. Bấy giờ, các đức Phật đồng nói khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Thiện-nam-tử! Ông có thể ở trong pháp hội của đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật mà thọ trì đọc tụng suy gẫm kinh này vì người khác nói, ông được công đức vô lượng vô biên, lửa chẳng đốt được, nước chẳng trôi được, công đức của ông, nghìn Phật chung nói chẳng thể hết được. Ông nay đã có thể phá các giặc ma, hoại quân sinh tử, các oán địch khác thảy đều trừ diệt. Thiện-nam-tử! Trăm nghìn các đức Phật dùng sức thần thông đồng chung thủ hộ ông, tất cả trời người trong đời không ai bằng ông. Chỉ trừ các đức Như-Lai, bao nhiêu thiền định trí huệ của các Thanh- văn, Duyên-giác, nhẫn đến Bồ-Tát không có ai bằng ông. Tú-Vương-Hoa! Vị Bồ-Tát đó thành tựu sức công đức trí huệ như thế.

11.- Nếu có người nghe phẩm “Dược- Vương-Bồ-Tát Bổn-Sự” này mà có thể tùy hỷ khen ngợi, thì người đó trong đời hiện tại trong miệng thường thoảng ra mùi thơm hoa sen xanh; trong lỗ chân lông nơi thân, thường thoảng ra mùi thơm ngưu- đầu chiên-đàn, được công đức như đã nói ở trên. Tú-Vương-Hoa! Vì thế ta đem phẩm “Dược-Vương Bồ-Tát Bổn-Sự” này chúc lũy cho ông. Năm trăm năm sau khi ta diệt độ phải tuyên nói lưu bố rộng truyền ở cõi Diêm-Phù-đề, chớ để dứt mất. Chớ cho hàng ác ma, dân ma, các trời, rồng, Dạ- xoa, Cưu-bàn-trà, v..v.. phá khuấy đặng. Tú-Vương-Hoa! Ông hãy dùng sức thần thông giữ gìn kinh này. Vì sao? Vì kinh này là món lương dược của người bệnh trong cõi Diêm-phù-đề; nếu người có bệnh được nghe kinh này bệnh liền tiêu diệt, chẳng già, chẳng chết. Tú-Vương-Hoa! Nếu ông thấy có người thọ trì kinh này, phải dùng hoa sen xanh đựng đầy hương hột rải trên người đó. Rải xong nghĩ rằng: “Người này chẳng bao lâu quyết sẽ lấy cỏ trải ngồi nơi đạo tràng, phá các quân ma, sẽ thổi ốc pháp, đánh trống pháp, độ thoát tất cả chúng sinh ra khỏi biển sinh, già, bệnh, chết. Cho nên người cầu Phật đạo thấy có người thọ trì kinh điển này, nên phải sinh lòng cung kính như thế.

.- Lúc đức Phật nói phẩm “Dược- Vương Bồ-Tát Bổn-Sự” này, có tám muôn bốn nghìn Bồ-Tát được pháp “Giải nhứt- thiết chúng-sinh ngữ-ngôn đà-la-ni”.

Đức Đa-Bảo Như-Lai ở trong tháp báu, khen ngài Tú-Vương-Hoa Bồ-Tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Tú-Vương-Hoa! Ông thành tựu bất-khả tư-nghì công đức mới có thể hỏi đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật việc như thế, làm vô lượng lợi ích cho tất cả chúng sinh.”

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Quyển thứ sáu

Tạm trì tuỳ hỷ thanh tịnh các căn kíp quên “nhân” “pháp”, thể thường còn, thần lực khắp càn khôn trao phó ân cần: Liều thân mạng để báo ân rộng lớn.

Nam Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)

Ngài Di-Lặc Bồ-Tát so lường kinh nhân, sáu căn thanh tịnh hiện thiên-chân, Bất-Khinh thể thường còn, vì pháp thiêu thân cúng dường Phật Tịnh-Minh[1].

Nam Mô Tú Vương Hoa Bồ Tát.(3 lần)

 

Sự tích Tụng kinh thoát nữ thân

Đời Tuỳ, huyện Bắc-Lăng, có ông Thôi-Ngạn-Võ niên hiệu Khai-Hoàng, làm quan Thứ-Sử châu Ngụy. Một hôm, nhân đi thanh tra trong địa phận mình quản trị, đến một ấp nọ, bỗng ngạc nhiên vừa sợ vừa mừng, bảo kẻ tùng giả rằng: “Ta xưa từng làm vợ người ở trong ấp này, nay vẫn biết nhà cũ.” Liền cỡi ngựa đi vào đường hẻm trong ấp, quanh quẹo đến một nhà, sai người gõ cửa. Ông chủ nhà đó đã già chạy ra lạy chào.

Ông Ngạn-Võ vào nhà, chỉ trên vách phía đông cách đất chừng năm sáu thước (thước Tàu) có chỗ lồi cao lên mà bảo chủ nhà rằng: “Chỗ trên cao đó là chỗ mà ta xưa kia cất năm đôi thoa vàng, với bộ kinh Pháp-Hoa của ta đọc hàng ngày. Bộ kinh ấy cuối quyển bảy, lửa cháy xém mất chữ hết một tờ. Vì cớ đó nên hiện nay mỗi khi ta tụng kinh Pháp-Hoa đến trang đó, thường quên lãng không ghi nhớ được.” Nói xong sai người đục chỗ vách đó ra, quả thật được hộp đựng kinh; thoa vàng cùng quyển thứ bảy cháy xém một tờ cuối quyển như lời nói trước.

Ông chủ nhà rơi nước mắt khóc rằng: “Thoa vàng và cùng kinh thật là vật của vợ tôi, ngày còn sinh tiền, vợ tôi thường đọc bộ kinh Pháp-Hoa này.”

Ông Ngạn-Võ lại nói: “Cây hòe trước sân kia ngày trước khi ta sắp đẻ, tự cởi đầu tóc mượn để vào bọng cây đó.” Nói xong bảo người thử lại tìm, thật quả được tóc.

Chủ nhà thấy việc như thế, biết chính quan Thứ-sử hiện nay, là vợ của mình ngày trước tái sinh, vừa buồn vừa mừng.

Thôi-Ngạn-Võ để đồ vật vàng bạc lại, hậu cấp cho ông chủ nhà mà đi.

(Lại-Bộ-Thượng-Thơ Đường-Lâm biên)

“Trong phẩm ‘Dược-Vương Bồ-Tát Bổn-Sự’ có nói: Nếu có người nữ nào nghe kinh này mà có thể thọ trì, thời sau khi bỏ báo thân đàn bà đó, không còn thọ lại nữa.” Chuyện của ông Thôi-Ngạn-Võ trên đây đủ chứng thật lời trong kinh. Làm cho chúng ta lại càng kính tin đức Như-Lai là đấng chân thật ngữ.

Một người đàn bà vợ tên dân quê ở trong ấp cùng đọc kinh Pháp-Hoa mà đã sớm khỏi thân hèn khổ chuyển thành thân quan cao tước lớn, trong khi ấy người chồng vẫn còn là tên dân quê. Chồng lại rước vợ, nào biết đó là vợ cũ của mình ngày xưa.

Tên dân quê đó cùng một ít kẻ lân cận, khi người đàn bà đọc kinh Pháp-Hoa chết, hoặc giả lại có niệm nghĩ rằng: “Tụng kinh không phước, trái lại bị chết yểu. Niệm ngu si, lòng chê khinh ấy, khi gặp Thôi-Ngạn-Võ, như tuyết gặp nước sôi vậy.”

Ôi! Công đức bất-khả tư-nghì của người trì kinh, diệu dụng bất khả tư nghì của kinh, cùng lý nhân quả nhiệm mầu, kẻ tâm vụng về, trí thức thô thiển có thể nào mà thấu đáo được. Tôi rất lo ngại cho hạng người bác nhân quả, huỷ báng kinh Đại-thừa và thiết tha mong sao những hạng người ấy không nên quá nông nổi.

Vì khổ báo của người huỷ báng kinh, đức Phật Thế-Tôn đấng vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác như thật ngữ, đã có huyền ký rõ ràng.

(Xem đoạn cuối phẩm Thí dụ - quyển 2)

Thích Nghĩa

  1. 106.Hai mươi bốn “thù” làm một lượng.
  2. 107.Tên những con số lớn của xứ Ấn-Độ xưa. Từ nghìn muôn ức sắp lên. Như một Chân-ca-la: Một nghìn muôn ức.
  3. 108.Trên chót núi Tu-di (Diệu-cao-sơn) bằng phẳng bốn phương có 32 cõi trời, mỗi cõi đều có một vị Thiên-vương quản trị. Trung ương, có một cõi trời, ông Thích-Đề-Hoàn-Nhân (Đế- Thích, ở trong đây, quyền quản lãnh cả 33 cõi trời, hợp lại là trời “Đao-Lợi”).
  4. 109.Người tu hành theo Phật Pháp phá 88 món “kiến-sở-đoạn- hoặc” thì rời phàm phu dự vào hàng Thánh nên gọi “Dự-Lưu”. Cõi dục có 9 phẩm “tư-hoặc”, cõi sắc có 36 phẩm “Tư-Hoặc”. Cõi vô sắc có 36 phẩm “tư-hoặc”. Cộng là 81 phẩm “tư-hoặc”. Sau khi phá hết 88 món “kiến-hoặc”, tu hành lần lần phá “tư- hoặc”. Trong 9 phẩm cõi dục, phá được 6 phẩm trước thì chứng bậc “tư-đà-hàm” (Nhất-Lai) nghĩa là còn một lần sinh xuống nhân gian. Phá cả 9 phẩm thì không còn sinh xuống nhân gian nữa nên gọi “Bất-Lai” (A-na-hàm). Phá cả 81 phẩm tư hoặc thì dứt hẳn sinh tử luân hồi nên gọi “Vô-Sinh” (A-La-Hán).
  5. 110.Thương-Chủ: Người dẫn đạo cho các con buôn.
  6. 111.Vua: Vị cai trị một nước, người đem lại sự an ninh cho dân chúng.
  7. 112.Xưa các người buôn châu báu thường ra biển tìm châu báu.

An-Lạc tức là nước Cực Lạc ở Tây phương, của đức Giáo Chủ A Di Đà Phật.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Quyển thứ bảy

Đời Diêu-Tần, Ngài Tam-Tạng Pháp-Sư

Cưu-Ma La-Thập phụng chiếu dịch.

PHẨM “DIỆU ÂM BỒ TÁT” THỨ HAI MƯƠI BỐN

1.- Lúc bấy giờ, đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật từ nhục kế114 tướng đại nhân phóng ra ánh sáng, và phóng ánh sáng nơi tướng lông trắng giữa chặn mày, soi khắp tám trăm muôn ức na-do-tha hằng-hà-sa các cõi Phật ở phương Đông. Qua khỏi số cõi đó có thế giới tên Tịnh- Quang Trang-Nghiêm. Nước đó có Phật hiệu: Tịnh-Hoa Tú-Vương-Trí Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-Nhân-Sư, Phật Thế-Tôn115, được vô lượng vô biên đại chúng Bồ-Tát cung kính vây quanh, mà vì chúng nói pháp. Ánh sáng lông trắng của đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật soi khắp cõi nước đó.

2.- Lúc đó, trong nước Nhứt-Thiết- Tịnh-Quang Trang Nghiêm có một vị Bồ- Tát tên là Diệu-Âm, từ lâu đã trồng các gốc công đức, cúng dường gần gũi vô lượng trăm nghìn muôn ức các đức Phật mà đều được trọn nên trí huệ rất sâu, được môn Diệu-tràng-tướng tam-muội, Pháp-hoa tam-muội, Tịnh-đức tam-muội, Tú-vương-hý tam-muội, Vô-duyên tam- muội, Trí-ấn tam-muội, Giải-nhứt-thiết chúng-sinh ngữ-ngôn tam-muội, Tập- nhứt-thiết công-đức tam-muội, Thanh- tịnh tam-muội, Thần-thông du-hý tam- muội, Tuệ-cự tam-muội, Trang-nghiêm- vương tam-muội, Tịnh-quang-minh tam- muội, Tịnh-tạng tam-muội, Bất-cộng tam- muội, Nhựt-triền tam-muội, v.v... được trăm nghìn muôn ức hằng-hà-sa các đại tam muội như thế. Quang-Minh của đức Thích-Ca Mâu- Ni Phật soi đến thân vị Bồ-Tát đó, liền bạch cùng đức Tịnh-Hoa Tú-Vương-Trí Phật rằng: “Thế Tôn! Con phải qua đến cõi Ta-bà để lễ lạy gần gũi cúng dường đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật, cùng để ra mắt ngài Văn-Thù Sư-Lợi Pháp-Vương- Tử Bồ-Tát, Dược-Vương Bồ-Tát, Dõng- Thí Bồ-Tát, Tú-Vương-Hoa Bồ-Tát, Thượng-Hạnh-Ý Bồ-Tát, Trang-Nghiêm- Vương Bồ-Tát, Dược-Thượng Bồ-Tát.”

Khi đó, đức Tịnh-Hoa Tú-Vương-Trí Phật bảo ngài Diệu-Âm Bồ-Tát: “Ông chớ có khinh nước Ta-bà sinh lòng tưởng là hạ liệt. Thiện-nam-tử! Cõi Ta-bà kia cao thấp không bằng, các núi đất đá đầy dẫy sự dơ xấu, thân Phật kém nhỏ, các chúng Bồ-Tát thân hình cũng nhỏ, mà thân của ông cao đến bốn muôn hai nghìn do-tuần, thân của Ta sáu trăm tám mươi muôn do-tuần. Thân của ông tốt đẹp thứ nhất trăm nghìn muôn phước sáng rỡ đẹp lạ, cho nên ông qua chớ khinh nước kia hoặc ở nơi Phật, Bồ-Tát cùng cõi nước mà sinh lòng tưởng cho là hạ liệt.”

Ngài Diệu-Âm Bồ-Tát bạch với Phật đó rằng: “Thế-Tôn! Con nay qua cõi Ta- bà đều là do sức thần của Như-Lai, do thần thông du hý của Như-Lai, do công đức trí huệ trang nghiêm của Như-Lai.”

3.- Lúc đó, Ngài Diệu-Âm Bồ-Tát, chẳng rời khỏi tòa, thân chẳng lay động mà vào trong tam muội, dùng sức tam muội ở nơi núi Kỳ-Xà-Quật cách pháp tòa chẳng bao xa hóa làm tám muôn bốn nghìn các hoa sen báu: Vàng Diêm-phù- đàn làm cọng, bạc làm cánh, kim-cang làm nhụy, chân-thúc-ca-bảo làm đài.

Bấy giờ, ngài Văn-Thù Sư-Lợi Pháp- vương-tử thấy hoa sen bèn bạch cùng Phật rằng: “Thế-Tôn! Đây do nhân duyên gì mà hiện điềm tốt này, có ngần ấy nghìn vạn hoa sen: Vàng Diêm-phù-đàn làm cọng, bạc làm cánh, kim-cang làm nhụy, chân-thúc-ca bảo làm đài?” Khi ấy đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật bảo ngài Văn-Thù Sư-Lợi rằng: “Đó là Diệu- Âm Đại Bồ-Tát từ cõi nước của đức Tịnh- HoaTú-Vương-Trí Phật muốn cùng tám muôn bốn nghìn Bồ-Tát vây quanh mà đến cõi Ta-bà này để cúng dường gần gũi lễ lạy nơi ta, cũng muốn cúng dường nghe kinh Pháp-Hoa.” Ngài Văn-Thù Sư-Lợi bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Vị Bồ-Tát đó trồng gốc lành gì, tu công đức gì mà có được sức đại thần thông như thế? Tu tam-muội gì? Mong Phật vì chúng con nói danh tự của tam- muội đó. Chúng con cũng muốn siêng tu hành đó. Tu hành môn tam-muội này mới thấy được sắc tướng lớn nhỏ oai nghi tấn chỉ của vị Bồ-Tát đó. Cúi mong đức Thế- Tôn dùng sức thần thông khi vị Bồ-Tát đó đến khiến chúng con được thấy.” Lúc ấy đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật bảo ngài Văn-Thù Sư-Lợi: “Đức Đa-Bảo Như- Lai đã diệt độ từ lâu, nay sẽ vì các ông mà hiện bày thân tướng của Bồ-Tát đó.” Tức thời đức Đa-Bảo Phật bảo Bồ-Tát đó rằng: “Thiện-nam-tử đến đây! Văn-Thù Sư-Lợi Pháp-vương-tử muốn thấy thân của ông.”

4.- Bấy giờ, ngài Diệu-Âm Bồ-Tát nơi cõi nước kia ẩn mặt, cùng với tám muôn bốn nghìn Bồ-Tát đồng nhau qua cõi Ta- bà, ở các nước trải qua, sáu điệu vang động, thảy đều rưới hoa sen bằng bảy báu, trăm nghìn nhạc trời chẳng trổi tự kêu, mắt của vị Bồ-Tát đó như cánh hoa sen xanh rộng lớn. Giả sử hoà hợp trăm nghìn muôn mặt trăng, diện mạo của ngài tốt đẹp lại hơn nơi đây, thân sắc vàng ròng vô lượng trăm nghìn công đức trang nghiêm, oai đức rất thịnh, ánh sáng chói rực, các tướng đầy đủ như thân Na-La-Diên116 bền chắc.

Ngài vào trong đài thất bảo bay lên hư không cách đất bằng bảy cây đa-la. Các chúng Bồ-Tát cung kính vây quanh mà đồng đến núi Kỳ Xà Quật ở cõi Ta-bà nầy, đến rồi xuống đài thất bảo, dùng chuỗi ngọc giá trị trăm nghìn, đem đến chỗ Thích-Ca Mâu-Ni Phật, đầu mặt lễ chân Phật dâng chuỗi ngọc lên mà bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Đức Tịnh Hoa Tú Vương Trí Phật hỏi thăm đức Thế-Tôn ít bệnh, ít khổ, đi đứng thơ thới, sở hành an vui chăng? Bốn đại điều hòa chăng? Việc đời nhẫn được chăng? Chúng sinh dễ độ chăng? Không có người nhiều tham dục, giận hờn, ngu si, ghen ghét, bỏn sẻn, kiêu mạn chăng? Không kẻ chẳng thảo cha mẹ, chẳng kính Sa-môn117 tà kiến tâm chẳng lành, chẳng nhiếp năm tình118 chăng? Thế-Tôn! Chúng sinh hàng phục được các ma oán chăng? Đức Đa-Bảo Như-Lai diệt độ từ lâu ở trong tháp bảy báu có đến nghe pháp chăng? Lại hỏi thăm đức Đa-Bảo Như-Lai: An ổn, ít khổ, kham nhẫn ở lâu được chăng? Thế-Tôn! Nay con muốn thấy thân đức Đa-Bảo Phật, cúi mong Thế-Tôn chỉ bày cho con được thấy.”  Lúc đó, đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật nói với Phật Đa-Bảo rằng: “Ông Diệu-Âm Bồ- Tát này muốn đặng ra mắt Phật.” Đức Đa-Bảo Phật liền nói với Diệu-Âm Bồ-Tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Ông có thể vì cúng dường đức Thích-Ca Mâu- Ni Phật và nghe kinh Pháp-Hoa cùng ra mắt Văn-Thù Sư-Lợi v.v.. nên qua đến cõi này.”

5.- Lúc bấy giờ, ngài Hoa-Đức Bồ-Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Ngài Diệu-Âm Bồ-Tát trồng gốc lành gì, tu công đức gì, mà có sức thần thông như thế?” Đức Phật bảo ngài Hoa-Đức Bồ-Tát: “Thuở quá khứ có Phật hiệu Vân-Lôi Âm- Vương Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, cõi nước tên là Hiện-Nhứt-Thiết-Thế- Gian, kiếp tên Hỷ-Kiến. Diệu-Âm Bồ-Tát ở trong một vạn hai nghìn năm, dùng mười muôn thứ kỹ nhạc cúng dường đức Vân-Lôi Âm-Vương Phật cùng dâng lên tám muôn bốn ngàn cái bát bằng bảy báu. Do nhân duyên quả báo đó nay sinh tại nước của đức Tịnh-Hoa Tú-Vương-Trí Phật, có sức thần như thế. Hoa-Đức! Ý ông nghĩ sao? Thuở đó,nơi chỗ đức Vân-Lôi-Âm-Vương Phật, Diệu- Âm Bồ-Tát cúng dường kỹ nhạc cùng dâng bát báu lên đó, đâu phải người nào lạ, chính nay là Diệu-Âm đại Bồ-Tát đây.

Hoa-Đức! Diệu-Âm Bồ-Tát này đã từng cúng dường gần gũi vô lượng các đức Phật, từ lâu trồng gốc công đức, lại gặp hằng-hà-sa trăm nghìn muôn ức na-do-tha đức Phật.”

6.- Hoa-Đức! Ông chỉ thấy Diệu-Âm Bồ-Tát thân hình ở tại đây, mà Bồ-Tát đó hiện các thứ thân hình, nơi nơi vì hàng chúng sinh nói kinh điển này. Hoặc hiện thân Phạm-Vương, hoặc hiện thân Đế-Thích, hoặc hiện thân Tự-Tại-Thiên, hoặc hiện thân Đại-Tự-Tại-Thiên, hoặc hiện thân Thiên-Đại Tướng- Quân, hoặc hiện thân Tỳ-sa-môn Thiên- Vương, hoặc hiện thân Chuyển-Luân- thánh-vương, hoặc hiện thân các Tiểu- vương, hoặc hiện thân Trưởng-giả, hoặc hiện thân Cư-sĩ, hoặc hiện thân Tể-quan, hoặc hiện thân Bà-la-môn, hoặc hiện thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, hoặc hiện thân phụ nữ của Tể-quan, hoặc hiện thân phụ nữ của Bà-la-môn, hoặc hiện thân đồng-nam, đồng-nữ, hoặc hiện thân Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A- tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la- dà, nhân cùng phi-nhân v.v... mà nói kinh này. Bao nhiêu địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh và các chỗ nạn đều có thể cứu giúp, nhẫn đến trong hậu cung của vua biến làm thân người nữ mà nói kinh này.

7.- Hoa-Đức! Diệu-Âm Bồ-Tát này, hay cứu hộ các chúng sinh trong cõi Ta-bà, Diệu-Âm Bồ-Tát này biến hoá hiện các thứ thân hình như thế ở tại cõi Ta-bà này vì chúng sinh mà nói kinh Pháp-Hoa ở nơi thần thông biến hóa không hề tổn giảm. Vị Bồ-Tát này dùng ngần ấy trí huệ sáng soi cõi Ta-bà, khiến tất cả chúng sinh đều được hiểu biết, ở trong hằng-hà- sa cõi nước trong mười phương cũng lại như thế. Nếu chúng sinh đáng dùng thân Thanh-văn được độ thoát, liền hiện thân hình Thanh-văn mà vì đó nói pháp. Đáng dùng thân hình Duyên-giác được độ thoát, liền hiện thân hình Duyên-giác mà vì đó nói pháp, đáng dùng thân hình Bồ-Tát được độ thoát, liền hiện thân hình Bồ-Tát mà vì đó nói pháp. Đáng dùng thân hình Phật được độ thoát, liền hiện thân hình Phật mà vì đó nói pháp. Theo chỗ đáng độ mà vì chúng hiện các thứ thân hình như thế, nhẫn đến đáng dùng diệt độ mà được độ thoát liền thị hiện diệt độ. Hoa-Đức! Diệu-Âm đại Bồ-Tát trọn nên sức đại thần thông trí huệ, việc đó như thế. Lúc ấy ngài Hoa-Đức Bồ-Tát bạch cùng Phật rằng: “Thế Tôn! Ngài Diệu-Âm Bồ-Tát sâu trồng căn lành. Thế-Tôn! Bồ- Tát đó trụ tam-muội gì mà có thể ở các nơi biến hiện thân hình độ thoát chúng sinh như thế?” Phật bảo ngài Hoa-Đức Bồ-Tát: “Thiện-nam-tử! Tam-muội đó tên là ‘Hiện-nhứt-thiết-sắc-thân’. Diệu-Âm Bồ- Tát trụ trong tam muội đó có thể giúp ích vô lượng chúng sinh như thế.”

8.- Lúc nói phẩm “Diệu-Âm Bồ-Tát” này những Bồ-Tát cùng đi chung với Diệu- Âm Bồ-Tát tám muôn bốn nghìn người đều được: “Hiện-nhứt-thiết-sắc-thân tam- muội.” Vô lượng Bồ-Tát trong cõi Ta-bà này cũng được tam-muội đó và Đà-la-ni. Khi ngài Diệu-Âm đại Bồ-Tát cúng dường đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật và tháp của Đa-Bảo Phật xong rồi, trở về bổn độ, các nước đi trải qua đều sáu điệu vang động, rưới hoa sen báu, trổi trăm nghìn muôn ức các thứ kỹ nhạc đã đến bổn quốc cùng tám muôn bốn nghìn Bồ-Tát vây quanh đến chỗ đức Tịnh-Hoa Tú-Vương Trí-Phật mà bạch rằng: “Thế Tôn! Con đến cõi Ta-bà lợi ích chúng sinh, ra mắt đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật và ra mắt tháp đức Đa-Bảo Phật lễ lạy cúng dường, lại ra mắt Văn-Thù Sư-Lợi Pháp-Vương- Tử Bồ-Tát, Dược-Vương Bồ-Tát, Đắc-Cần Tinh-Tấn-Lực Bồ-Tát, Dõng-Thí Bồ-Tát cũng làm cho tám muôn bốn nghìn vị Bồ-Tát này được “Hiện-nhứt-thiết-sắc-thân tam-muội”. Lúc nói phẩm “Diệu-Âm Bồ-Tát Lai- Vãng” này, bốn muôn hai nghìn vị Thiên- tử được vô-sinh pháp-nhẫn. Hoa-Đức Bồ- Tát được “Pháp-Hoa tam-muội”.

 

 

Thích Nghĩa

  1. 114.Trên đầu đức Phật, thịt đùn cao lên như hình búi tóc, 1 tướng tốt trong 32 tướng tốt của thân Phật.
  2. 115.Mỗi vị Phật đều có đủ 10 hiệu này, phải đủ 10 hiệu này mới phải là Phật:
  1. 1.Như-Lai: Toàn thể như như bất động, tùy duyên hóa độ mà đến trong muôn loài - đến trong muôn loài mà vẫn như như bất động.
  2. 2.Ứng-Cúng: Ruộng phước vô lượng vì lợi quần sinh nên đến thọ sự cúng dường của chín giới.
  3. 3.Chánh-Biến-Tri: Hiểu biết suốt thấu khắp tất cả pháp một cách chân chánh đúng như thực.
  4. 4.Minh-Hạnh-Túc: Minh: trí huệ, Hạnh: công hạnh lợi mình lợi người. Trí huệ và công hạnh đều hoàn bị.
  5. 5.Thiện-Thệ: Khéo qua. Qua Niết-bàn nhưng vẫn thường độ sinh, nhưng vẫn không rời Niết-bàn.
  6. 6.Thế-Gian-Giải: Rành rẽ tất cả pháp của thế-gian và xuất-thế- gian.
  7. 7.Vô-Thượng-Sĩ: Đấng vô thượng, không còn ai trên.
  8. 8.Điều-Ngự-Trượng-Phu: Bậc trượng phu hay điều hòa hóa độ chúng sinh nhu hòa, và hay ngự phục hóa độ chúng sinh cang cường.
  9. 9.Thiên-Nhân-Sư: Thầy của tất cả trời, người v.v...
  10. 10.Phật: Đấng vô-thượng chánh đẳng chánh giác.

“Thế-Tôn” hiệu chung của 10 hiệu trên. Nếu được đủ 10 đức hiệu trên thời là bậc tôn quý của thế-gian và xuất-thế-gian.

  1. 116.Kim-Cang: Một chất rất cứng rắn, không chi phá vỡ được.
  2. 117.Hiệu chung của tất cả người xuất gia.
  3. 118.Năm-Căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân.
 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “QUÁN-THẾ-ÂM BỔ-TÁT PHỔ-MÔN” THỨ HAI MƯƠI LĂM

1.- Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu, chấp tay hướng Phật mà bạch rằng: “Thế Tôn! Ngài Quán-Thế-Âm Bồ-Tát do nhân duyên gì mà tên là Quán-Thế-Âm?”

Phật bảo ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát: “Thiện-nam-tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sinh chịu các khổ não, nghe Quán-Thế-Âm Bồ-Tát này một lòng xưng danh. Quán-Thế-Âm Bồ-Tát tức thì xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát. Nếu có người trì danh hiệu Quán-Thế- Âm Bồ-Tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức uy thần của Bồ-Tát này được như vậy.

Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ-Tát này liền được chỗ cạn. Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sinh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa-cừ, mã- não, san-hô, hổ-phách, trân châu, các thứ báu, vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia trôi tắp nơi nước quỉ La-sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ- Tát, thì các người đó đều được thoát khỏi nạn quỉ La-sát. Do nhân duyên đó mà tên là Quán-Thế-Âm.

2.- Nếu lại có người sắp sẽ bị hại, xưng danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thì dao gậy của người cầm liền bị gãy từng khúc, người ấy liền được thoát khỏi. Nếu quỉ Dạ-xoa cùng La-sát đầy trong cõi tam-thiên đại-thiên muốn đến hại người, nghe người xưng hiệu Quán-Thế- Âm Bồ-Tát, thì các quỉ dữ đó còn không có thể dùng mắt dữ mà nhìn người, huống lại làm hại được. Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát thảy đều đứt rã, liền được thoát khỏi. Nếu kẻ oán tặc đầy trong cõi tam-thiên đại-thiên, có một vị thương chủ dắt các người buôn đem theo nhiều của báu, trải qua nơi đường hiểm trở, trong đó có một người xướng rằng: “Các Thiện-nam-tử! Chớ nên sợ sệt, các ông nên phải một lòng xưng danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, vị Bồ-Tát đó hay đem pháp vô-úy thí cho chúng sinh, các ông nếu xưng danh hiệu thì sẽ được thoát khỏi oán tặc nầy.” Các người buôn nghe rồi, đều lên tiếng xưng rằng: “Nam-Mô Quán-Thế-Âm Bồ- Tát!” Vì xưng danh hiệu Bồ-Tát nên liền được thoát khỏi. Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát sức oai thần cao lớn như thế.

3.- Nếu có chúng sinh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Quán- Thế-Âm Bồ-Tát, liền được ly dục. Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được lìa lòng giận. Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, liền được lìa ngu si. Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát có những sức oai thần lớn, nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sinh thường phải một lòng tưởng nhớ. Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán-Thế-Âm Bồ- Tát, liền sinh con trai phúc đức trí huệ; giả sử muốn cầu con gái, bèn sinh con gái có tướng xinh đẹp, trước đã trồng gốc phúc đức, mọi người đều kính mến. Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát có sức thần như thế.

4.- Nếu có chúng sinh cung kính lễ lạy Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, thì phúc đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sinh đều phải thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ- Tát.

Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh tự của sáu mươi hai ức hằng-hà-sa Bồ-Tát lại trọn đời cúng dường đồ ăn uống, y phục, giường nằm, thuốc thang. Ý ông nghĩ sao? Công đức của người thiện-nam- tử, thiện-nữ-nhân đó có nhiều chăng? Vô-Tận-Ý thưa: “Bạch Thế-Tôn! Rất nhiều.” Phật nói: “Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thì phước của hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn muôn ức kiếp không thể cùng tận.Vô-Tận-Ý! Thọ trì danh hiệu Quán- Thế-Âm Bồ-Tát được vô lượng vô biên phúc đức lợi ích như thế.”

5.- Ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát dạo đi trong cõi Ta-bà như thế nào? Sức phương tiện việc đó thế nào?” Phật bảo Vô-Tận-Ý Bồ-Tát: “Thiện- nam-tử! Nếu có chúng sinh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật được độ thoát, thời Quán-Thế-Âm Bồ-Tát liền hiện thân Phật mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Duyên-giác được độ thoát, liền hiện thân Duyên-giác mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Thanh-văn được độ thoát, liền hiện thân Thanh-văn mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Phạm-vương được độ thoát, liền hiện thân Phạm-vương mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Đế-Thích được độ thoát, liền hiện thân Đế-Thích mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Đại-tự-tại-thiên được độ thoát, liền hiện thân Đại-tự-tại-thiên mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Thiên-đại- tướng-quân được độ thoát, liền hiện thân Thiên-đại-tướng-quân mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tỳ-sa-môn được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-sa-môn mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tiểu-vương được độ thoát, liền hiện thân Tiểu-vương mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Trưởng-giả được độ thoát, liền hiện thân Trưởng-giả mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Cư-sĩ được độ thoát, liền hiện thân Cư-sĩ mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tể-quan được độ thoát, liền hiện thân Tể-quan mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân Bà-la-môn mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tỳ-kheo, Tỳ- kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di được độ thoát, liền hiện thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân phụ nữ của Trưởng-giả, Cư-Sĩ, Tể-quan, Bà-la-môn được độ thoát, liền hiện thân phụ nữ mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân đồng-nam, đồng-nữ được độ thoát, liền hiện thân đồng-nam, đồng-nữ mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân trời, rồng, Dạ- xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhân cùng phi nhân được độ thoát, liền đều hiện ra mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Chấp-Kim- Cang thần được độ thoát, liền hiện Chấp- Kim-Cang thần mà vì đó nói pháp.

Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sinh, cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán-Thế-Âm Bồ- Tát.

Quán-Thế-Âm đại Bồ-Tát đó ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự vô-úy, cho nên cõi Ta-bà này đều gọi Ngài là vị “Thí- vô-úy”.

6.- Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật: “Thế- Tôn! Con nay phải cúng dường Quán- Thế-Âm Bồ-Tát.” Liền mở chuỗi ngọc bằng các châu báu nơi cổ giá trị trăm nghìn lạng vàng, đem trao cho ngài Quán-

Thế-Âm mà nói rằng: “Xin Ngài nhận chuỗi trân bảo pháp thí nầy.” Khi ấy Quán-Thế-Âm Bồ-tát chẳng chịu nhận chuỗi. Ngài Vô-Tận-Ý lại thưa cùng Quán-Thế-Âm Bồ-Tát rằng: “Xin Ngài vì thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc nầy.” Bấy giờ Phật bảo Quán-Thế-Âm Bồ- Tát: “Ông nên thương Vô-Tận-Ý Bồ-Tát nầy và hàng tứ chúng cùng trời, rồng, Dạ- xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhân và phi- nhân v.v... mà nhận chuỗi ngọc đó. Tức thời Quán-Thế-Âm Bồ-Tát thương hàng tứ chúng và trời, rồng, nhân, và phi- nhân v.v... mà nhận chuỗi ngọc đó chia làm hai phần: Một phần dâng đức Thích- Ca Mâu-Ni Phật, một phần dâng tháp của Phật Đa-Bảo. Vô-Tận-Ý! Quán-Thế-Âm Bồ-Tát có sức thần tự tại như thế, dạo đi nơi cõi Ta Bà.” Lúc đó, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát nói kệ hỏi Phật rằng:

7.- Thế-Tôn đủ tướng tốt!

Con nay lại hỏi kia

Phật tử nhân duyên gì?

Tên là Quán-Thế-Âm?

Đấng đầy đủ tướng tốt

Kệ đáp Vô-Tận-Ý:

Ông nghe hạnh Quán-Âm

Khéo ứng các nơi chỗ

Thệ rộng sâu như biển

Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn

Hầu nhiều nghìn đức Phật

Phát nguyện thanh tịnh lớn.

Ta vì ông lược nói

Nghe tên cùng thấy thân

Tâm niệm chẳng luống qua

Hay diệt khổ các cõi.

Giả sử sinh lòng hại

Xô rớt hầm lửa lớn

Do sức niệm Quán-Âm

Hầm lửa biến thành ao.

Hoặc trôi dạt biển lớn

Các nạn quỉ, cá, rồng

Do sức niệm Quán-Âm

Sóng mòi chẳng chìm được.

Hoặc ở chót Tu-di

Bị người xô rớt xuống

Do sức niệm Quán-Âm

Như mặt nhật treo không

Hoặc bị người dữ rượt

Rớt xuống núi Kim-Cang

Do sức niệm Quán-Âm

Chẳng tổn đến mảy lông.

Hoặc gặp oán tặc vây

Đều cầm dao làm hại

Do sức niệm Quán-Âm

Đều liền sinh lòng lành.

Hoặc bị khổ nạn vua

Khi hành hình sắp chết

Do sức niệm Quán-Âm

Dao liền gãy từng đoạn.

Hoặc tù cấm xiềng xích

Tay chân bị gông cùm

Do sức niệm Quán-Âm

Tháo rã được giải thoát

Nguyền rủa các thuốc độc

Muốn hại đến thân đó

Do sức niệm Quán-Âm

Trở hại nơi bổn-nhân119.

Hoặc gặp La-sát dữ

Rồng độc các loài quỉ

Do sức niệm Quán-Âm

Liền đều không dám hại.

Hoặc thú dữ vây quanh

Nanh vuốt nhọn đáng sợ

Do sức niệm Quán-Âm

Vội vàng bỏ chạy thẳng.

Rắn độc cùng bò cạp

Hơi độc khói lửa đốt

Do sức niệm Quán-Âm

Theo tiếng tự bỏ đi.

Mây sấm nổ sét đánh

Tuôn giá120, xối mưa lớn

Do sức niệm Quán-Âm

Liền được tiêu tan cả.

Chúng sinh bị khổ ách

Vô lượng khổ bức thân

Quán-Âm sức trí diệu

Hay cứu khổ thế gian

Đầy đủ sức thần thông

Rộng tu trí phương tiện

Các cõi nước mười phương

Không cõi nào chẳng hiện.

Các loài trong đường dữ:

Địa-ngục, quỉ, súc sinh

Sinh, già, bệnh, chết khổ

Lần đều khiến dứt hết.

Chân-quán thanh tịnh quán

Trí-huệ quán rộng lớn

Bi-quán và từ-quán,

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng

Sáng thanh tịnh không nhơ

Tuệ nhật121 phá các tối

Hay phục tai khói lửa

Khắp soi sáng thế gian.

Lòng bi răn như sấm

Ý từ diệu dường mây122

Xối mưa pháp cam lồ

Dứt trừ lửa phiền não123

Cãi kiện qua chỗ quan

Trong quân trận sợ sệt

Do sức niệm Quán-Âm

Cừu oán đều lui tan.

Diệu-Âm, Quán-Thế-Âm

Phạm-âm, Hải-triều-âm

Tiếng hơn thế gian kia,

Cho nên thường phải niệm.

Niệm niệm chớ sinh nghi

Quán Âm bậc tịnh thánh

Nơi khổ não nạn chết

Hay vì làm nương cậy.

Đủ tất cả công đức

Mắt lành trông chúng sinh

Biển phước lớn không lường

Cho nên phải đảnh lễ.

8.- Bấy giờ, ngài Trì-Địa Bồ-Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật bạch rằng: “Thế Tôn! Nếu có chúng sinh nào nghe phẩm Quán-Thế-Âm Bồ-Tát Đạo- nghiệp Tự-Tại, Phổ-Môn Thị-Hiện sức thần thông nầy, thì phải biết công đức người đó chẳng ít.” Lúc Phật nói phẩm Phổ-Môn nầy, trong chúng có tám muôn bốn nghìn chúng sinh đều phát tâm vô-đẳng-đẳng vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.

 

Thích Nghĩa

  1. 119.Người chủ, người dùng bùa chú thuốc độc để hại người khác.
  2. 120.Ta thường gọi là mưa đá.
  3. 121.Mặt trời trí huệ, ý nói trí huệ sáng chói như mặt trời.
  4. 122.“Lòng bi” là lòng muốn cứu chúng sinh khỏi khổ, răn trừ các độc, như sấm vang làm khiếp vía các ma mị.

“Ý TỪ” là lòng muốn chúng sinh được hưởng các sự vui thỏa nên thường đem sự lợi lạc ban cho chúng sinh như mây rưới mưa đượm nhuần cỏ cây muôn vật.

  1. 123.Lòng tham giận, ganh, v.v... làm phiền nhiễu bứt rứt khổ não thân tâm người như lửa đốt, Bồ-Tát nói pháp trừ những tánh xấu trên đó làm cho thân tâm người thư thái mát mẻ, như rưới nước cam lồ tắt lửa.

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “ĐÀ-LA-NI”

THỨ HAI MƯƠI SÁU

1.- Lúc bấy giờ, ngài Dược-Vương Bồ- Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu chấp tay hướng Phật mà bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Nếu có Thiện-nam- tử, thiện-nữ-nhân hay thọ trì được kinh Pháp-Hoa này, hoặc đọc tụng thông lẹ, hoặc biên chép quyển kinh, được bao nhiêu phúc đức?” Phật bảo ngài Dược-Vương: “Nếu có thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân cúng dường tám trăm muôn ức na-do-tha hằng-hà-sa các đức Phật. Ý ông nghĩ sao? Người đó được phúc đức có nhiều chăng?” - Thưa Thế-Tôn! Rất nhiều. Phật nói: “Nếu có thiện-nam-tử, thiện- nữ-nhân ở nơi kinh này có thể thọ trì nhẫn đến một bài kệ bốn câu đọc tụng giải nghĩa, đúng như lời mà tu hành thì công đức rất nhiều.”

2.- Lúc đó, ngài Dược-Vương Bồ-Tát bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Con nay sẽ cho người nói kinh Pháp-Hoa chú Đà-la-ni để giữ-gìn đó.” Liền nói chú rằng:

“An nhĩ, mạn nhĩ, ma nễ, ma ma nễ, chỉ lệ, già lê đệ, xa mế, xa lý đa vĩ, chuyên đế, mục đế mục đa lý, ta lý, a vĩ ta lý, tang lý, ta lý xoa duệ, a xoa duệ, a kỳ nhị chuyên đế xa lý, đà la ni, a lư dà bà ta kỵ đá tỳ xoa nhị, nễ tỳ thế, a tiện đa la nễ lý thế, a đàn dá ba lệ thâu địa, âu cứu lệ, mâu cứu lệ, a la lệ, ba la lệ, thủ ca sai, a, tam ma tam lý, Phật đà tỳ kiết lợi diệt đế đạt ma ba lợi sai đế, tăng già niết cù sa nễ bà xá bà xá thâu địa, mạn đá lã, mạn đá lã xoa dạ đa, bưu lâu đá, bưu lâu đá kiêu xá lược, ác xoa lã, ác xoa dã đa dã, a bà lư, a ma nhã na đa dạ.”

 

Thế-Tôn! Thần chú Đà-la-ni này là của sáu mươi hai ức hằng-hà-sa các đức Phật nói. Nếu có người xâm hủy vị Pháp-sư này, thì là xâm hủy các đức Phật rồi. Lúc đó, đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật khen Dược-Vương Bồ-Tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Dược-Vương! Ông thương xót muốn ủng hộ vị Pháp-sư đó, nên nói chú Đà-la-ni này, được nhiều lợi ích ở nơi các chúng sinh.” 

3.- Lúc bấy giờ, ngài Dõng-Thí Bồ-Tát bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Con cũng vì ủng hộ người đọc tụng thọ trì kinh Pháp- Hoa mà nói chú Đà-la-ni. Nếu vị Pháp-sư đó được chú Đà-la-ni này, hoặc Dạ-xoa, La-sát hoặc Phú-đan-na hoặc Cát-giá, hoặc Cưu-bàn-trà, hoặc Ngạ-quỷ v.v... rình tìm chỗ dở của Pháp-sư không thể được tiện lợi.” Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

“Toa lệ, ma ha toa lệ, úc chỉ, mục chỉ, a lệ, a la bà đệ, niết lệ đệ, niết lệ đa bà đệ, y

trí nỉ, vi trí nỉ, chỉ trí nỉ, niết lệ trì nỉ, niết lê trì bà để.”

Thế-Tôn! Thần chú Đà-la-ni này của hằng-hà-sa các đức Phật nói, cũng đều tùy hỷ. Nếu có người xâm hủy vị Pháp-sư này thì là xâm hủy các đức Phật đó rồi.

4.- Bấy giờ, Tỳ-sa-môn Thiên-vương, vị trời hộ đời bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Con cũng vì thương tưởng chúng sinh ủng hộ vị Pháp-sư đó mà nói Đà-la-ni này. Liền nói chú rằng: A-lê, na-lê, nâu na lê, a na lư, na lý, câu na-lý.” Thế-Tôn! Dùng thần chú này ủng hộ Pháp-sư, con cũng tự phải ủng hộ người trì kinh này, làm cho trong khoảng trăm do tuần không có các điều tai hoạn.

5.- Bấy giờ Trì-Quốc Thiên-Vương ở trong hội này cùng với nghìn muôn ức na- do-tha chúng Càn-thát-bà cung kính vây quanh đến trước chỗ Phật, chấp tay bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Con cũng dùng

thần chú Đà-la-ni ủng hộ người trì kinh Pháp-Hoa.” Liền nói chú rằng:

“A dà nễ, dà nễ, cù lợi, càn đà lợi, chiên đà lợi, ma đắng kỳ, thường cầu lợi, phù lâu sa nỉ, át để.”

Thế-Tôn! Thần chú Đà-la-ni này là của bốn mươi hai ức các đức Phật nói, nếu có người xâm hủy vị Pháp-sư này thì là xâm hủy các đức Phật đó rồi.

6.- Bấy giờ có những La-sát nữ: một, tên Lam-bà; hai, tên Tỳ-lam-bà; ba, tên Khúc-xỉ; bốn, tên Hoa-xỉ; năm, tên Hắc-xỉ; sáu, tên Đa-phát; bảy, tên Vô-yếm-túc; tám, tên Trì-anh-lạc; chín, tên Cao-đế; mười, tên Đoạt-nhứt-thiết chúng-sinh tinh-khí. Mười vị La-sát-nữ đó cùng với quỷ Tử-mẫu, con và quyến thuộc đều đến chỗ Phật, đồng tiếng bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Chúng con cũng muốn ủng hộ người đọc tụng thọ trì kinh Pháp-Hoa, trừ sự khổ hoạn cho người đó. Nếu có kẻ rình tìm chỗ dở của Pháp-sư, thì làm cho chẳng

được tiện lợi.” Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

“Y đề lý, y đề dẫn, y đề lý, a đề lý, y đề lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, lâu hê, lâu hê, lâu hê, lâu hê, đa hê, đa hê, đa hê, đâu hê, nâu hê.”

Thà trèo lên đầu chúng con, chớ đừng não hại Pháp-sư, hoặc Dạ-xoa, hoặc La-sát, hoặc Ngạ-quỷ hoặc Phú-đan-na, hoặc Cát- giá hoặc Tỳ-đà-la, hoặc Kiền-đà hoặc Ô- ma-lặc-đà, hoặc A-bạt-ma-la, hoặc Dạ-xoa cát-giá, hoặc Nhân-cát-giá, hoặc quỷ làm bệnh nóng, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc đến bảy ngày, hoặc làm bệnh nóng luôn, hoặc hình trai, hoặc hình gái, hoặc hình đồng- nam, hoặc hình đồng-nữ, nhẫn đến trong chiêm bao cũng lại chớ não hại.”

Liền ở nơi trước Phật mà nói kệ rằng:

Nếu chẳng thuận chú ta

Não loạn người nói pháp

Đầu vỡ làm bảy phần

Như nhánh cây A-lê

Như tội giết cha mẹ

Cũng như họa ép dầu124

Cân lường khi dối người

Tội Điều-Đạt phá Tăng

Kẻ phạm Pháp-Sư đây

Sẽ mắc họa như thế.

Những La-sát-nữ nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Chúng con cũng sẽ tự mình ủng hộ người thọ trì, đọc tụng, tu hành kinh này, làm cho được an ổn, lìa các sự khổ hoạn, tiêu các thuốc độc.”

7.- Phật bảo các La-sát-nữ: “Hay thay! Hay thay! Các người chỉ có thể ủng hộ người thọ trì tên kinh Pháp-Hoa phước chẳng thể lường được rồi, huống là ủng hộ người thọ trì toàn bộ cúng dường quyển kinh, hoa hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, phan, lọng, kỹ nhạc, thắp các thứ đèn: Đèn nến, đèn dầu, các thứ đèn dầu thơm, đèn dầu hoa tô-na-

ma, đèn dầu hoa chiêm-bặc, đèn dầu hoa bà-sư-ca, đèn dầu hoa ưu-bát-la, nghìn trăm thứ cúng dường như thế.

Cao-Đế! Các người cùng quyến thuộc phải nên ủng hộ những Pháp-sư như thế.”

Lúc nói phẩm “Đà-la-ni” này, có sáu muôn tám nghìn người được vô-sinh pháp-nhẫn.

 

Thích Nghĩa

124 Người xứ Tây-Trúc ép dầu, trước giã nhỏ mè hay đậu v.v... ủ cho sinh trùng rồi sau mới ép. Ép dầu tức là sát hại nhiều trùng nên phải bị ương họa.

 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “DIỆU TRANG NGHIÊM VƯƠNG BỔN SỰ” THỨ HAI MƯƠI BẢY

1.- Lúc bấy giờ, Phật bảo hàng đại chúng rằng: “Về thuở xưa, cách đây vô - lượng vô biên bất-khả -tư-nghì a-tăng-kỳ kiếp, có đức Phật hiệu là Vân-Lôi-Âm Tú- Vương Hoa-Trí Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri. Nước đó tên Quang-Minh Trang-Nghiêm, kiếp tên Hỷ-Kiến.” Trong pháp hội của Phật đó có vị vua tên Diệu-Trang-Nghiêm, phu nhân của vua tên Tịnh-Đức có hai người con, một tên Tịnh-Tạng, hai tên Tịnh-Nhãn. Hai người con đó có sức thần thông lớn, phúc đức trí huệ, từ lâu tu tập đạo hạnh của Bồ- Tát, những là: Thí ba-la-mật, giới ba-la- mật, nhẫn-nhục ba-la-mật, tinh-tấn ba-la- mật, thiền ba-la-mật, trí-huệ ba-la-mật, phương-tiện ba-la-mật, từ-bi hỷ-xả nhẫn đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo pháp thảy đều rành rẽ suốt-thấu. Lại được các môn tam-muội của Bồ-Tát: Nhựt-tinh-tú tam-muội, Tịnh-quang tam-muội, Tịnh-sắc tam-muội, Tịnh-chiếu-minh tam-muội, Trường-trang-nghiêm tam-muội, Đại-oai- đức-tạng tam-muội, ở nơi các môn tam- muội này cũng đều thấu suốt.

2.- Lúc đó, đức Phật kia vì muốn dẫn dắt vua Diệu-Trang-Nghiêm cùng thương tưởng hàng chúng sinh nên nói kinh Pháp-Hoa này.

Bấy-giờ, Tịnh-Tạng, Tịnh-Nhãn, hai người con đến chỗ của mẹ chấp tay thưa mẹ rằng: “Mong mẹ đến nơi chỗ đức Phật Vân-Lôi-Âm Tú-Vương-Hoa-Trí, chúng con cũng sẽ theo hầu gần gũi cúng dường lễ lạy.” Vì sao? Vì đức Phật đó ở trong tất cả chúng trời người mà nói kinh Pháp-Hoa, nên phải nghe và tin nhận. Mẹ bảo con rằng: “Cha con tin theo ngoại đạo, rất ham pháp Bà-la-môn, các con nên qua thưa với cha để cùng nhau đồng đi.” Tịnh-Tạng, Tịnh-Nhãn chấp tay thưa mẹ: “Chúng con là Pháp-vương-tử mà lại sinh vào nhà tà kiến này!” Mẹ bảo con rằng: “Các con nên thương tưởng cha các con, mà vì đó hiển phép thần thông biến hóa, nếu cha con được thấy lòng ắt thanh tịnh, hoặc là chịu cho chúng ta qua đến chỗ Phật.”

3.- Lúc ấy, hai người con thương cha nên bay lên hư không cao bằng bảy cây đa-la, hiện các món thần biến. Ở trong hư không đi, đứng, ngồi, nằm, trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, dưới thân ra nước, trên thân ra lửa, hoặc hiện thân lớn đầy trong hư không rồi lại hiện nhỏ, nhỏ lại hiện lớn, ở trong hư không ẩn mất, bỗng nhiên hiện trên đất, vào đất như vào nước, đi trên nước như đi trên đất, hiện các món thần biến như thế làm cho vua cha lòng thanh tịnh tin hiểu. Bấy giờ, cha thấy con có sức thần như thế, lòng rất vui mừng được chưa từng có, chấp tay hướng về phía con mà nói rằng: “Thầy các con là ai, con là đệ tử của ai?” Hai người con thưa rằng: “Đại vương! Đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật kia nay đương ngồi trên pháp tòa dưới cây bồ-đề bằng bảy báu, ở trong tất cả chúng trời người thế-gian, rộng nói kinh Pháp Hoa, đó là thầy chúng con, con là đệ-tử.” Cha nói với con rằng: “Ta nay cũng muốn ra mắt thầy các con, nên cùng nhau đồng đi.” Khi đó hai người con từ trong hư không xuống, đến chỗ của mẹ chấp tay thưa mẹ rằng: “Phụ-vương nay đã tin hiểu, có thể kham phát được tâm vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, chúng con đã vì cha làm Phật sự rồi, mong mẹ bằng lòng cho chúng con, ở nơi chỗ đức Phật kia mà xuất gia tu hành Phật đạo.” Lúc đó, hai người con muốn tuyên lại ý mình nói kệ thưa mẹ:

Mong mẹ cho các con

Xuất-gia làm Sa-môn

Các Phật rất khó gặp

Chúng con theo Phật học

Như hoa Ưu-đàm-bát

Gặp Phật lại khó hơn

Khỏi các nạn cũng khó

Mong cho con xuất-gia.

Mẹ liền bảo con rằng: “Cho các con xuất gia. Vì sao? Vì Phật khó gặp vậy.”

4.- Bấy giờ, hai người con thưa cha mẹ rằng: Lành thay, cha mẹ! Xin liền qua đến chỗ đức Vân-Lôi-Âm-Tú-Vương-Hoa-Trí Phật để gần gũi cúng dường.

Vì sao? Vì Phật khó gặp được, như hoa Linh-Thoại, như rùa một mắt gặp bộng cây nổi125 mà chúng ta do phước đời trước sâu dày, sinh đời này gặp Phật Pháp, xin cha mẹ nên cho chúng con được xuất gia. Vì sao? Vì các đức Phật khó gặp được, thời kỳ gặp Phật cũng khó có.

5.- Lúc đó nơi hậu cung của vua Diệu- Trang-Nghiêm có tám muôn bốn nghìn người thảy đều có thể kham thọ trì kinh Pháp-Hoa này. Tịnh-Nhãn Bồ-Tát từ lâu đã thông đạt nơi “Pháp-Hoa tam-muội”. Tịnh-Tạng Bồ-Tát đã từ vô lượng trăm nghìn muôn ức kiếp, thông-đạt môn “Ly- chư-ác-thú tam-muội”, vì muốn làm cho tất cả chúng sinh lìa các đường dữ126 vậy.

Phu nhân của vua được môn “Chư- Phật-Tập tam-muội”, hay biết được tạng pháp bí mật của các đức Phật. Hai người con dùng sức phương tiện khéo hóa độ vua cha như thế, khiến cho lòng cha tin hiểu ưa mến Phật Pháp.

6.- Bấy giờ vua Diệu-Trang-Nghiêm cùng chung với quần thần quyến thuộc, Tịnh-Đức phu nhân cùng chung với thể nữ quyến thuộc nơi hậu cung, hai người con của vua, cùng chung với bốn muôn hai nghìn người đồng một lúc đi qua chỗ Phật. Đến rồi đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh Phật ba vòng, rồi đứng qua một phía. Lúc đó đức Phật kia vì vua nói pháp, chỉ dạy làm cho được lợi ích vui mừng. Vua rất vui đẹp. Bấy giờ, vua Diệu-Trang-Nghiêm cùng phu nhân mở chuỗi trân châu giá trị trăm nghìn đeo nơi cổ, để rải trên đức Phật, chuỗi đó ở giữa hư không hóa thành đài báu bốn trụ, trong đài có giường báu lớn trải trăm nghìn muôn thiên y, trên đó có đức Phật ngồi xếp bằng phóng hào quang sáng lớn.

7.- Lúc đó vua Diệu-Trang-Nghiêm nghĩ rằng: Thân Phật tốt đẹp riêng lạ ít có, thành tựu sắc thân vi diệu thứ nhất. Bấy giờ, đức Vân-Lôi-Âm-Tú-Vương- Hoa-Trí Phật bảo bốn chúng rằng: “Các người thấy vua Diệu-Trang-Nghiêm chấp tay đứng trước ta đó chăng? Vị vua này ở trong pháp ta làm Tỳ- kheo siêng ròng tu tập các món trợ Phật đạo Pháp, sẽ được làm Phật hiệu Ta-La- Thọ-Vương, nước tên Đại-Quang, kiếp tên Đại-Cao-Vương. Đức Ta-La-Thọ-Vương Phật có vô lượng chúng Bồ-Tát và vô lượng Thanh- văn, nước đó bằng thẳng công đức như thế.”

8.- Vua Diệu-Trang-Nghiêm liền đem nước giao cho em, rồi cùng phu nhân hai người con và các quyến thuộc, ở trong Phật Pháp xuất gia tu hành đạo hạnh. Vua xuất gia rồi trong tám muôn bốn nghìn năm thường siêng tinh tấn tu hành kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa; qua sau lúc đây, được môn “Nhứt-thiết-tịnh-công-đức- trang-nghiêm tam-muội”. Liền bay lên hư không cao bảy cây đa- la mà bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Hai người con của con đây đã làm Phật sự dùng sức thần thông biến hóa, xoay tâm tà của con, làm cho con được an trụ trong Phật Pháp, được thấy Thế-Tôn. Hai người con này là thiện-tri-thức của con, vì muốn phát khởi căn lành đời trước lợi ích cho con nên đến sinh vào nhà con.” Lúc đó đức Vân-Lôi-Âm-Tú-Vương- Hoa-Trí Phật bảo vua Diệu-Trang- Nghiêm rằng: “Đúng thế! Đúng thế! Như lời ông nói, nếu có thiện-nam-tử, thiện-nữ- nhân nào trồng gốc lành thời đời đời được gặp thiện-tri-thức, vị thiện-tri-thức hay làm Phật sự, chỉ dạy cho lợi ích vui mừng, khiến vào đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Đại-vương nên biết! Vị thiện-tri-thức đó là nhân duyên lớn, giáo hóa dìu dắt làm cho được thấy Phật phát tâm vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Đại-vương! Ông thấy hai người con này chăng? Hai người con này đã từng cúng dường sáu mươi lăm trăm nghìn muôn ức na-do-tha hằng-hà-sa các đức Phật, gần gũi, cung kính, nơi chỗ các đức Phật thọ trì kinh Pháp-Hoa, thương tưởng những chúng sinh tà kiến làm cho trụ trong chánh-kiến.” Diệu-Trang-Nghiêm-Vương liền từ trong hư không xuống mà bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Như-Lai rất ít có do công đức trí huệ nên nhục kế trên đỉnh sáng suốt chói rỡ. Mắt Phật dài rộng mà sắc xanh biếc, tướng lông trắng chặn mày như ngọc kha-nguyệt, răng trắng bằng và khít thường có ánh sáng, môi sắc đỏ đẹp như trái tần-bà.” Lúc đó vua Diệu-Trang-Nghiêm khen ngợi Phật có vô lượng trăm nghìn muôn ức công đức thế rồi, ở trước Như-Lai một lòng chấp tay lạy bạch Phật rằng: “Thế- Tôn! Chưa từng có vậy! Pháp của Như- Lai đầy đủ trọn nên bất-khả tư-nghì công đức vi diệu dạy răn chỗ tu hành an ổn rất hay, con từ ngày nay chẳng còn lại tự theo tâm hành của mình chẳng sinh những lòng ác: Kiêu mạn, giận hờn, tà kiến.” Vua thưa lời đó rồi, lạy Phật mà ra.

9.- Phật bảo đại chúng: “Ý các ông nghĩ sao? Vua Diệu-Trang-Nghiêm đâu phải người nào lạ, nay chính là Hoa-Đức Bồ-Tát, bà Tịnh-Đức phu nhân nay chính là Quang-Chiếu Trang-Nghiêm-Tướng Bồ-Tát đang đứng trước Phật, vì thương xót vua Diệu-Trang-Nghiêm và quyến thuộc nhà vua nên vị Bồ-Tát nầy sinh sống trong cung. Còn hai hoàng tử nay chính là Dược-Vương Bồ-Tát và Dược- Thượng Bồ-Tát.”

Dược-Vương và Dược-Thượng Bồ-Tát này thành tựu các công đức lớn như thế, đã ở chỗ vô lượng trăm nghìn muôn ức, các đức Phật trồng các gốc công đức, thành tựu bất khả tư nghì những công đức lành. Nếu có người biết danh tự của hai vị Bồ-Tát này thì tất cả trong đời, hàng trời, nhân dân cũng nên lễ lạy. Lúc Phật nói phẩm “Diệu-Trang- Nghiêm-Vương Bổn-sự” này có tám muôn bốn nghìn người xa trần lụy, rời cấu nhiễm, ở trong các pháp chứng được pháp nhãn tịnh.

 

Thích Nghĩa

  1. 125.Để ví dụ những việc lâu xa khó gặp khó được. Kinh nói: “Như trong biển lớn có khúc cây bọng nổi trên mặt nước 100 năm một lần trôi qua, 100 năm một lần trôi lại; đáy biển có một con rùa đui, 100 năm một lần nổi lên mặt nước đón một bọng cây để chui vào. Biển rộng, cây 100 năm mới một lần trôi qua, rùa đã mù mà 100 năm mới nổi lên 1 lần, chực chui được vào bộng cây, khó lắm!”
  2. 126.Địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh.
 

 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

PHẨM “PHỔ-HIỀN BỒ-TÁT KHUYẾN- PHÁT” THỨ HAI MƯƠI TÁM

1.- Lúc bấy giờ, ngài Phổ-Hiền Bồ-Tát dùng sức thần thông tự tại oai đức danh văn, cùng vô lượng vô biên bất-khả-xưng- sổ chúng đại Bồ-Tát từ phương Đông mà đến; các nước đi ngang qua khắp đều rung động, rưới hoa sen báu, trổi vô-lượng trăm nghìn muôn ức các thứ kỹ-nhạc. Lại cùng vô số các đại chúng: Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca- lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, nhân, phi-nhân v.v... vây quanh, đều hiện sức oai đức thần thông đến cõi Ta-bà trong núi Kỳ-Xà-Quật, đầu mặt lạy đức Thích- Ca Mâu-Ni Phật đi quanh bên hữu bảy vòng, bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Con ở nơi nước của đức Bảo-Oai-Đức-Thượng- Vương Phật, xa nghe cõi Ta-bà này nói kinh Pháp-Hoa, nên cùng với vô-lượng vô biên trăm nghìn muôn ức chúng Bồ-Tát đồng đến để nghe thọ, cúi mong đức Thế- Tôn nên vì chúng con nói đó.” Nếu Thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân sau khi Như-Lai diệt độ, thế nào mà có thể được kinh Pháp-Hoa này.

2.- Phật bảo Phổ-Hiền Bồ-Tát rằng: “Nếu Thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân thành tựu bốn pháp, thì sau khi Như-Lai diệt-độ sẽ được kinh Pháp-Hoa này: Một là được các đức Phật hộ-niệm; hai là trồng các gốc công-đức; ba là vào trong chánh-định; bốn là phát lòng cứu tất cả chúng-sinh.” Thiện nam tử, thiện nữ nhân thành tựu bốn pháp như thế, sau khi Như-Lai diệt-độ quyết được kinh này.

3.- Lúc đó ngài Phổ-Hiền Bồ-Tát bạch Phật rằng: “Thế-Tôn! Năm trăm năm sau trong đời ác-trược nếu có người thọ trì kinh-điển nầy, con sẽ giữ gìn trừ các sự khổ-hoạn làm cho được an-ổn, khiến không ai được tiện-lợi rình tìm làm hại; hoặc ma, hoặc con trai của ma, hoặc con gái của ma, hoặc dân ma, hoặc người bị ma dựa, hoặc Dạ-xoa, hoặc La-sát, hoặc Cưu-bàn-trà hoặc Tỳ-xá xà, hoặc Cát-giá, hoặc Phú-đan-na, hoặc Vi-đà-la v.v... những kẻ làm hại người đều chẳng được tiện-lợi. Người đó hoặc đi, hoặc đứng, đọc tụng kinh nầy, bấy giờ con cưỡi tượng-vương trắng sáu ngà cùng chúng đại Bồ-Tát, đều đến chỗ người đó mà tự hiện thân ra, để cúng-dường thủ-hộ an-ủi tâm người đó, cũng để cúng-dường kinh Pháp-Hoa. Người đó nếu ngồi suy nghĩ kinh nầy, bấy giờ con lại cưỡi tượng-vương trắng hiện ra trước người đó, người đó nếu ở trong kinh Pháp-Hoa có quên mất một câu một bài kệ, con sẽ dạy người đó chung cùng đọc tụng, làm cho thông thuộc. Bấy giờ, người thọ trì đọc tụng kinh Pháp-Hoa được thấy thân con, lòng rất vui mừng lại càng tinh-tấn, do thấy thân con nên liền được tam-muội và Đà-la-ni tên là “Triền-đà-la-ni”, trăm nghìn muôn ức “Triền-đà-la-ni”, “Pháp-âm-phương- tiện đà-la-ni”, được những môn Đà-la-ni như thế.

4.- Thế-Tôn! Nếu đời sau, sau năm trăm năm trong đời ác-trược, hàng Tỳ- kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, người cầu tìm, người thọ trì, người đọc tụng, người biên chép, mà muốn tu tập kinh Pháp-Hoa nầy, thời trong hai mươi mốt ngày, phải một lòng tinh-tấn, mãn hai mươi mốt ngày rồi, con sẽ cưỡi voi trắng sáu ngà, cùng vô-lượng Bồ-Tát vây quanh, dùng thân mà tất cả chúng-sinh ưa thấy, hiện nơi trước người đó để vì nói pháp chỉ dạy cho lợi-ích vui mừng cũng lại cho chú Đà-la-ni. Được chú Đà-la-ni nầy thì không có phi-nhân nào có thể phá hoại được, cũng chẳng bị người nữ làm hoặc loạn. Con cũng đích thân thường hộ người đó. Cúi mong đức Thế-Tôn nghe con nói chú Đà- la-ni nầy, liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

“A đàn địa, đàn đà bà địa, đàn đà bà đế, đàn đà cưu xá lệ, đàn đà tu đà lệ, tu đà lệ, tu đà la bà để, Phật đà ba chiên nễ, tát bà đà la ni a bà đa ni, tát bà bà sa a bà đa ni, tu la bà đa ni, tăng già bà lý xoa ni, tăng già niết dà đà ni, a tăng kỳ, tăng già bà dà địa, đế lệ a nọa tăng già đâu lược, a la đế ba la đế, tát bà tăng già địa, tam ma địa dà lan địa, tát bà đạt mạ tu ba lợi sát đế, tát bà tát đỏa lâu đà kiêu xá lược, a nâu dà địa, tân a tỳ cát lợi địa đế.”

Thế-Tôn! Nếu có Bồ-Tát nào được nghe chú Đà-la-ni nầy, phải biết đó là sức thần thông của Phổ-Hiền.

5.- Nếu kinh Pháp-Hoa lưu-hành trong Diêm-phù-đề có người thọ trì, thời nên nghĩ rằng: Đều là sức oai thần của Phổ- Hiền. Nếu có người thọ trì đọc tụng ghi nhớ chân chánh hiểu nghĩa thú trong kinh đúng như lời mà tu hành, phải biết người đó tu hạnh Phổ-Hiền, ở nơi vô lượng vô biên các đức Phật, sâu trồng gốc lành, được các Như-Lai, lấy tay xoa đầu. Nếu chỉ in chép, người nầy mạng chung sẽ sinh lên trời Đao-Lợi. Bấy giờ, bốn muôn tám nghìn thiên nữ trổi các kỹ nhạc mà đến rước , người đó liền đội mũ bảy báu ở trong hàng thể nữ, vui chơi khoái lạc, huống là thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ chân chánh hiểu nghĩa thú kinh, đúng như lời mà tu hành. Nếu có người nào thọ trì, đọc tụng, giải nghĩa thú kinh, người đó khi mạng chung được nghìn đức Phật trao tay, khiến chẳng sợ sệt, chẳng đọa vào đường dữ, liền lên cung trời Đâu-Suất, chỗ Di-Lặc Bồ-Tát mà sinh vào trong hàng quyến thuộc trăm nghìn muôn ức thiên nữ, đức Di-Lặc Bồ-Tát có ba mươi hai tướng, chúng đại Bồ-Tát cùng nhau vây quanh. Có công đức lợi ích như thế cho nên người trí phải một lòng tự chép hoặc bảo người chép thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ chân chánh đúng như lời mà tu hành. Thế-Tôn! Con nay dùng sức thần thông giữ gìn kinh nầy, sau khi Như-Lai diệt độ, làm cho rộng lưu bố trong Diêm- phù-đề khiến chẳng dứt mất.

6.- Lúc bấy giờ, đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Phổ-Hiền! Ông có thể hỗ trợ kinh nầy làm cho nhiều chúng sinh an vui lợi ích, ông đã thành tựu bất-khả tư-nghì công đức, lòng từ bi sâu lớn, từ lâu xa đến nay phát tâm vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, mà có thể thực hành nguyện thần thông đó, để giữ gìn kinh này. Ta sẽ dùng sức thần thông giữ gìn người hay thọ trì danh hiệu Phổ-Hiền Bồ- Tát. Phổ-Hiền! Nếu có người thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ chân chánh tu tập biên chép kinh Pháp-Hoa nầy, phải biết người đó thì là thấy đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật, như từ miệng Phật mà nghe kinh điển nầy. Phải biết người đó cúng dường cho đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật, phải biết người đó được Phật khen lành thay, phải biết người đó được Thích-Ca Mâu-Ni Phật lấy tay xoa đầu. Phải biết người đó được đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật, lấy y trùm cho. Người như thế chẳng còn ham ưa sự vui trong đời, chẳng ưa kinh sách viết chép của ngoại đạo, cũng lại chẳng ưa gần gũi ngoại đạo và các kẻ ác, hoặc kẻ hàng thịt, hoặc kẻ nuôi heo, dê, gà, chó, hoặc thợ săn, hoặc kẻ buôn bán sắc gái. Người đó tâm ý ngay thật có lòng nghĩ nhớ chân chánh có sức phúc đức. Người đó chẳng bị ba món độc làm não hại, cũng chẳng bị tánh ghen ghét, ngã mạn, tà mạn, tăng thượng mạn làm não hại. Người đó ít muốn biết đủ, có thể tu hạnh Phổ-Hiền.

7.- Phổ-Hiền! Sau khi Như-Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người nào thấy người thọ trì đọc tụng kinh Pháp-Hoa phải nghĩ rằng: Người này chẳng bao lâu sẽ đến đạo tràng, phá các chúng ma thành vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, chuyển pháp luân, đánh pháp cổ, thổi pháp loa, rưới pháp vũ, sẽ ngồi trên pháp tòa sư-tử trong đại chúng trời người. Phổ-Hiền! Nếu ở đời sau, có người thọ trì đọc tụng kinh điển này, người đó chẳng còn ham ưa y phục, giường nằm, những vật nuôi sống, chỗ mong cầu chẳng luống, cũng ở trong hiện đời được phước báo đó. Nếu có người khinh chê đó rằng: “Ông là người điên cuồng vậy, luống làm hạnh ấy trọn không được lợi-ích.” Tội báo như thế sẽ đời đời không mắt. Nếu có người cúng dường khen ngợi đó, sẽ ở trong đời này được quả báo hiện tại. Nếu lại thấy người thọ trì kinh này mà nói bày lỗi quấy của người đó, hoặc thực, hoặc chẳng thực, người này trong hiện đời mắc bệnh bạch-lại 127 . Nếu khinh cười người trì kinh sẽ đời đời răng nướu thưa thiếu, môi xấu, mũi xẹp, tay chân cong quẹo, mắt lé, thân-thể hôi dơ, ghẻ dữ máu mủ, bụng thũng, hơi ngắn, bị các bệnh nặng dữ. Cho nên Phổ-Hiền! Nếu thấy người thọ trì kinh điển này phải đứng dậy xa rước, phải như kính Phật.

8.- Lúc Phật nói phẩm Phổ-Hiền Bồ- Tát khuyến phát này có hằng-hà-sa vô lượng vô biên Bồ-Tát được trăm nghìn muôn ức môn “Triền-đà-la-ni”, tam-thiên đại-thiên thế giới vi trần số các đại Bồ-Tát, đủ đạo Phổ-Hiền. Lúc Phật nói kinh này, Phổ-Hiền v.v... các vị Bồ-Tát, Xá-Lợi-Phất v.v... các vị Thanh-văn và hàng trời, rồng, nhân, phi- nhân v.v... tất cả đại chúng đều rất vui thọ trì lời Phật làm lễ mà đi.

 

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

Quyển thứ bảy

I.- Diệu-Âm hạnh khắp, thành trước nên sau, hoằng dương kinh này, toàn nhờ công tổng trì128, tà ma ngoại đạo theo hơi gió lánh xa, đạo chân thường lưu thông, muôn pháp đều viên dung.

Nam Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

II.- Pháp-Hoa Hải-Hội 129 đức Phật thân tuyên, ba chu130 chín dụ nghĩa kính mầu, bảy cuốn gồm bao trùm hơn sáu muôn lời, xướng tụng lợi người, trời.

Nam Mô Pháp Hoa Hải Hội Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Chư Hiền Thánh Tăng. (3 lần)

III.- Một câu nhiễm tâm thần

Đều giúp đến bờ kia

Nghĩ suy ròng tu tập

Hẳn dùng làm thuyền bè

Tùy hỷ thấy cùng nghe

Thường làm chủ với bạn

Hoặc lấy hay là bỏ

Qua tai đều thành duyên

Hoặc thuận cùng với nghịch

Trọn nhân đây được thoát.

Nguyện ngày tôi giải thoát.

Y báo cùng chánh báo

Thường tuyên kinh mầu này

Một cõi đến một trần

Đều là vì lợi vật

Cúi mong các đức Phật

Thầm nhờ hộ trợ cho

Tất cả hàng Bồ Tát

Kín giúp sức oai linh

Nơi nơi chưa nói kinh

Đều vì chúng khuyến thỉnh

Phàm chỗ có nói pháp

Đích thân thờ cúng dường

Một câu cùng một kệ

Tăng tiến đạo Bồ-đề

Một sắc và một hương

Trọn không hề thối chuyển.

IV.- Trời, A-tu-la, Dạ-xoa thảy Đến nghe pháp đó nên chí tâm: Ủng hộ Phật Pháp khiến thường còn Mỗi vị siêng tu lời Phật dạy Bao nhiêu người nghe đến chốn này Hoặc trên đất liền hoặc hư không Thường với người đời sinh lòng từ Ngày đêm tự mình nương pháp ở Nguyện các thế giới thường an ổn Phước trí vô biên lợi quần sinh Bao nhiêu tội nghiệp thảy tiêu trừ Xa lìa các khổ về viên tịch.

Hằng dùng giới hương xoa vóc sáng Thường trì định phục để giúp thân Hoa mầu Bồ-đề khắp trang nghiêm Tùy theo chỗ ở thường an lạc.

Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. (3 lần)

 

Thích nghĩa

  1. 127.Bệnh hủi (da tróc sần sùi, tóc mày đều rụng).
  2. 128.Tức là “Đà-la-ni”.
  3. 129.Hội lớn rộng rất đông như biển không thể lường biết!
  4. 130.Ba chu: 1) Thuyết-pháp chu; 2) Thí-dụ chu; 3) Nhân-duyên chu.

Phụ: - Bích-chi-Phật: có hai hạng:

  1. 1.Ra đời không gặp Phật, không gặp chánh pháp, nhân thấy sự biến đổi trong đời như hoa héo lá khô, v.v... mà tự ngộ lý vô thường, dứt kiến-tư-hoặc, thoát ly sinh tử luân hồi, gọi là vị: Độc Giác.

Ra đời gặp Phật, gặp chánh pháp, tu pháp “thập-nhị-nhân- duyên” (xem Phẩm “Hoá-Thành-Dụ” thứ 7, quyển thứ ba), mà chứng ngộ vô sinh, thoát ly sinh tử luân hồi gọi là vị “Duyên-Giác”, 2 bậc: Độc-Giác cùng Duyên-Giác, cứ quả vị thì ngang với quả A-la-hán.

 

 

Kinh

Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa

Sa-môn Đàm-Ma Già-Đà Da-Xá, đời Tiêu-Tề, nước Thiên-Trúc, dịch chữ Phạn ra chữ Hán.

Tỳ Kheo Thích Tuệ Hải dịch chữ Hán ra chữ Việt.

PHẨM THỨ NHẤT “ĐỨC HẠNH”

Chính tôi được nghe, một thời bấy giờ, Đức Phật cùng với chúng đại Tỳ Kheo một vạn hai ngàn người đều hội họp ở trong núi Kỳ Xà Quật, nơi thành Vương Xá. Các vị Bồ Tát và đại Bồ Tát tám vạn người, cùng với bộ Thiên, bộ Long, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà. Các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di cũng đều hội họp trong đó. Vua đại Chuyển Luân, vua tiểu Chuyển Luân, vua Kim Luân, vua Ngân Luân, cùng các vua Luân khác. Các vị quốc vương, vương tử; các hàng quốc thần, quốc dân, quốc sĩ, quốc nữ; các

đại trưởng giả trong nước cùng với họ hàng số đông hàng trăm ngàn muôn đều cùng nhau tự đi đến chốn Phật, đầu mặt lễ dưới chân, nhiễu trăm nghìn vòng, đốt hương rải hoa và các món cúng dường khác. Khi cúng dường xong thì lui ngồi về một bên. Các vị Bồ Tát tên là: Văn-Thù Sư-Lợi Pháp-vương-tử, Đại-Oai Đức-Tạng Pháp- vương-tử, Vô-Ưu-Tạng Pháp-vương-tử, Đại-Biện-Tạng Pháp-vương-tử; Bồ-Tát Di-Lặc, Bồ-Tát Đạo-Thủ, Bồ-Tát Dược- Vương, Bồ-Tát Dược-Thượng, Bồ-Tát Hoa-Tràng, Bồ-Tát Hoa-Quang, Bồ-Tát Đà-La-Ni Tự-Tại-Vương, Bồ-Tát Quán- Thế-Âm, Bồ-Tát Đại-Thế-Chí, Bồ-Tát Thường-Tinh-Tấn, Bồ-Tát Bảo-Ấn-Thủ, Bồ-Tát Bảo-Trượng, Bồ-Tát Việt-Tam- Giới, Bồ-Tát Tỳ-Ma-Bạt-La, Bồ-Tát Hương-Tượng, Bồ-Tát Đại-Hương-Tượng, Bồ-Tát Sư-Tử Hống-Vương, Bồ-Tát Sư- Tử Du-Hí, Bồ-Tát Sư-Tử Phấn-Tấn, Bồ-Tát Sư-Tử Tinh-Tấn, Bồ-Tát Dũng-Duệ- Lực, Bồ-Tát Oai-Mãnh-Phục, Bồ-Tát Trang Nghiêm, Bồ-Tát Đại Trang Nghiêm, v.v… Những vị Bồ-Tát và đại Bồ-Tát tám vạn người cũng đều tề tựu. Các vị Bồ-Tát nầy ai nấy đều là pháp thân Đại-sĩ, đã được thành tựu giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, nơi tâm thiền tịnh lặng lẽ, thường ở trong cảnh chánh định an nhiên điềm đạm, không có sợ hãi, là người vô lậu, vô dục, không còn điên đảo loạn tưởng xen lẫn vào được. Tịnh tĩnh lắng trong, chí huyền diệu lâng lâng, giữ chí bất động, hàng trăm nghìn muôn ức kiếp bao nhiêu pháp môn đều hiện rõ ở trước. Được trí huệ lớn, thông suốt các pháp, phân biệt rõ ràng, tánh, tướng chân thực, không có vắn dài, tỏ rõ phân minh. Lại hay biết mọi căn tánh khéo léo, dùng môn tổng-trì vô-ngại biện-tài của Chư Phật chuyển xe diệu pháp mà tùy thuận những người năng chuyển. Trước hết vẫy giọt nước pháp để tưới tắt dục trần; mở cửa Niết-bàn, quạt gió giải thoát trừ mọi nhiệt não nơi đời, được mọi pháp mát mẻ. Thứ lại, ban cho mười hai món nhân duyên rất sâu để gột rửa vô minh, cho đến già, bệnh, chết v.v… đốt cháy bập bùng; những sự khổ não gom góp như ánh sáng mặt trời vừa mới tụ lại. Pháp Đại- thừa vô-thượng làm cho chúng sinh được thấm nhuần; những nơi có thiện căn thì đều gieo hạt giống tốt ở khắp các ruộng công đức và đều khiến cho phát khởi mầm mống Bồ-đề. Lấy trí huệ làm ngày tháng, lấy phương tiện làm thời tiết mà giúp cho sự nghiệp Đại-thừa thêm lớn, khiến cho ai nấy chóng thành ngôi vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác. Thường trụ yên vui ở chốn vi diệu chân thật, dùng vô lượng đại bi cứu khổ chúng sinh. Những chúng sinh đó là người chân thiện-tri-thức; những chúng sinh đó là ruộng phước tốt lớn; những chúng sinh đó là bậc thầy không phải cầu thỉnh; những chúng sinh đó là chốn vui vẻ yên ổn, là nơi cứu độ, là nơi giúp đỡ, và là nơi nương tựa lớn. Nơi nơi đều vì chúng sinh làm đại lương-đạo, làm đạo-sư, làm đại đạo-sư; hay làm nhãn mục cho những chúng sinh mù lòa; hay làm tai, mũi, lưỡi cho những người câm, ngọng, điếc. Những người mọi căn hư thiếu thì đều khiến cho được đầy đủ. Làm đại chánh niệm cho những kẻ điên cuồng hoang loạn; làm thuyền trưởng và đại thuyền trưởng vận tải chúng sinh qua bể khổ sinh tử đến bờ Niết-bàn; làm bậc Y-vương và đại Y- vương phân biệt từng bệnh tướng, hiểu rõ tánh dược, tùy bệnh cho thuốc, khiến cho chúng sinh thích uống; là bậc Điều-ngự và đại Điều-ngự, không làm mọi việc buông lung. Ví như người quản tượng hay điều phục khéo léo những loài voi mà không ai điều phục nổi; làm sư-tử mạnh mẽ có oai đức điều phục những loài thú khác mà không nát hoại; làm Du-Hí Bồ-Tát dùng các pháp Ba-la-mật ở chốn đức Như-Lai kiên cố bất động an trụ vào nguyện lực rộng tịnh cõi Phật, chẳng bao lâu được thành ngôi vô-thượng chánh-đẳng chánh- giác. Các vị Bồ-Tát và đại Bồ-Tát đó, đều có công đức bất-khả tư-nghì như thế. Các vị Tỳ-kheo ở trong pháp hội nầy tên là: Đại-trí Xá-Lợi-Phất, Thần thông Mục-Kiền-Liên, Tuệ-mạng Tu-Bồ-Đề, Ma­ha Ca-Chiên-Diên, Di-Đà-La Ni-Tử, Phú- Lâu-Na, A-Nhã Kiều-Trần-Như, Thiên- nhãn A-Na-Luật, Trì-luật Ưu-Ba-Li, Thị-giả là ông A-Nan, Phật-tử La-Vân Ưu-Ba Nan-Đà, Ly-Bà-Đa, Kiếp-Tân-Na, Bạc- Câu-La, A-Chu-Đà-Sa-Già-Đà; Đầu-đà Đại-Ca-Diếp, Ưu-Lâu Tần-Loa Ca-Diếp, Già-Da Ca-Diếp, Na-Đề Ca-Diếp. Những vị Tỳ-kheo như thế một muôn hai ngàn người đều là bậc A-la-hán, đã được giải thoát chân chánh hết mọi kiết-sử lậu-nghiệp, không còn bị ràng buộc chấp trước. Bấy giờ ngài Đại-Trang-Nghiêm Bồ- Tát ma-ha-tát quan sát khắp hết tòa ngồi ai nấy đều đã tịnh ý rồi, thì cùng với tám vạn vị Bồ-Tát ma-ha-tát ở trong chúng, đều từ tòa ngồi đứng dậy đi đến chỗ Phật, đầu mặt lễ dưới chân Phật, rồi nhiễu trăm nghìn vòng, và đốt hương rải hoa cõi trời, dâng áo cõi trời, tràng anh-lạc cõi trời, ngọc vô giá cõi trời, từ trong hư không dần dần rơi xuống bốn phương như mây tụ lại mà dâng cúng đức Phật. Các thức ăn trời đựng trong bình bát cõi trời, trăm vị thơm ngon cõi trời đều tràn đầy sung mãn. Mỗi khi thấy sắc ngửi hương thì tự nhiên no đủ. Phướn trời, phan trời, tàn lọng cõi trời, nơi nơi đặt bày nhạc cụ vi diệu cõi trời, và ở chốn đức Phật hòa tấu nhạc trời để dâng cúng. Liền ở trước Phật quì gối chắp tay, ai nấy một lòng đồng thanh nói kệ khen ngợi rằng: 

Quý hóa thay! Đại-thánh, đại ngộ

Không nhiễm nhơ, không đắm dục trần

Đấng Điều-ngự, trời, người, tượng, mã

Gió đạo đức thơm tỏa khắp nơi

Trí bình thản lòng lo ngờ tĩnh

Ý diệt vong, tâm thức lâng lâng

Tư tưởng niệm, mộng càng dứt hẳn

Các đại ấm, giới, nhập không còn

Thân nầy chẳng có cũng chẳng không

Chẳng tự, tha, nhân duyên chẳng phải

Chẳng vuông, tròn, cũng không dài, vắn

Chẳng sinh diệt, chẳng phải ra vào

Chẳng tác vi, chẳng tạo, chẳng khởi

Chẳng ngồi nằm, chẳng phải ở, đi

Chẳng động chuyển, cũng không nhàn tĩnh

Chẳng tiến, thoái, cũng chẳng an, nguy

Không phải thị, phi, không đắc, thất

Không bỉ, không thử, không tiến, lui

Không xanh, không vàng, không đỏ, trắng

Không hồng, không tía, bao màu sắc

Giới, định, huệ, giải-tri-kiến sinh

Tam-minh, lục-thông, đạo phẩm phát 

Thập-lực, từ-bi vô-úy khởi

Chúng sinh nghiệp tốt nhân duyên sinh

Hiện thân trượng sáu vàng rực rỡ

Đẹp đẽ phương phi chiếu sáng ngời

Tướng đẹp vành trăng ánh mặt trời

Tóc xoáy biếc xanh đầu nhục kế

Mắt sáng gương trong mi mấp máy

Lông mày biếc, thẳng miệng, má vuông

Môi, lưỡi đỏ đẹp như quả đỏ

Răng trắng bốn mươi tựa Kha-tuyết

Trán rộng mũi thẳng diện tròn đầy

Ngực nêu chữ vạn ức sư tử

Chân tay mềm mại đủ nghìn khoáy

Nách, tay liền nhau nắm trong ngoài

Bắp vế, ngón tay dài thon thẳng

Da dẻ nhỏ mịn lông xoáy hữu

Gót, gối chẳng hiện âm mã kín

Gân nhỏ xương lăm tựa ruột hươu

Biểu lý trong suốt sạch lâng lâng

Nước trong chẳng nhiễm chút bụi trần

Tất cả ngần ấy băm hai tướng

Tám mươi vẻ đẹp dường nên thấy

Mà thực không tướng, không sắc tướng

Hết thảy có tướng mắt đối không

Cái tướng vô tướng có tướng thân 

Thân tướng chúng sinh tướng giống nhau

Hay khiến chúng sinh vui mừng lễ

Dốc lòng thành kính biểu ân cần

Nhân đó ngã mạn, tự cao hết

Thành tựu sắc thân đẹp như thế

Đệ tử chúng con hơn tám vạn

Cùng nhau cúi đầu đều kính lễ

Đấng diệt tư tưởng, tâm ý thức

Điều-ngự, ngựa voi vô trước thánh

Cúi đầu nương về pháp, sắc thân

Giới, định, huệ hợp giải-tri-kiến

Cúi đầu nương về bao tướng đẹp

Cúi đầu nương về khó nghĩ bàn

Tiếng sấm phạm âm vang tám hướng

Nhiệm mầu thanh tịnh rất sâu xa

Tứ đế, lục độ, mười hai duyên 

Tùy thuận chúng sinh tâm chuyển nghiệp

Ai nghe mà chẳng mở tâm ý

Dứt hết ràng buộc khổ sinh tử

Người nghe hoặc được

Tu-đà-hoàn Tư-đà, A-na,

A-la-hán Vô lậu, vô vi ngôi

Duyên-giác Vô sinh vô diệt ngôi

Bồ-Tát Hoặc được vô lượng

Đà-la-ni Biện tài vô ngại lời khéo léo 

Diễn nói kệ mầu nhiệm sâu xa

Suối pháp trong thảnh thơi tắm gội

Hoặc hóa hiện thần túc bay nhảy

Mình ra vào nước, lửa tự do

Tướng như thế, pháp luân như thế

Thanh tịnh vô biên khó nghĩ bàn

Chúng con cùng nhau lại cúi đầu

Quy y vào lúc xe pháp chuyển

Cúi đầu nương về tướng phạm âm

Cúi đầu nương về Duyên, Đế, Độ

Bao nhiêu kiếp xưa đức Thế-Tôn

Cần khổ tu tập các đức hạnh

Vì chúng con, trời, người, long, thần

Và hết thảy các loài chúng sinh

Hay bỏ tất cả việc khó bỏ

Của báu, vợ con và thành, nước...

Với pháp trong ngoài không xẻn tiếc

Tủy, não, đầu, mắt đều đem cho

Phụng trì tịnh giới của Chư Phật

Dù phải mất mạng chẳng hủy thương

Nếu người dao gậy lại hại thêm

Lời ác nhục mạ đều không giận

Nhiều kiếp ép mình không lười biếng

Đêm ngày nhiếp tâm thường thiền định

Học hết tất cả các đạo pháp

Trí huệ vào sâu căn chúng sinh

Cho nên nay được sức tự tại

Trong pháp tự tại làm vua pháp

Con lại cùng nhau cúi đầu lạy

Đấng hay làm những việc khó làm.

 

PHẨM THỨ HAI “THUYẾT PHÁP”

Bấy giờ ngài Đại-Trang-Nghiêm Bồ- Tát ma-ha-tát cùng với tám vạn vị Bồ-Tát Ma-ha-tát nói bài kệ khen ngợi Phật rồi, đều bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế-Tôn! Hàng Bồ-Tát chúng con tám vạn người, nay muốn được ở trong giáo pháp của đức Như-Lai, hoặc có chỗ còn phải hỏi han, không hiểu đức Thế-Tôn có rủ lòng thương chỉ giáo cho chăng?” Đức Phật bảo Bồ-Tát Đại-Trang- Nghiêm và tám vạn vị Bồ-Tát rằng: “Hay lắm! Phải lắm! Nầy Thiện-nam- tử! Các ông khéo biết đúng thời, vậy tha hồ các ông cứ hỏi, Như-Lai chẳng bao lâu nữa sẽ vào Niết-bàn. Sau khi vào Niết-bàn rồi thì đều khiến cho hết thảy ai nấy không còn nghi ngờ gì nữa. Vậy ai muốn hỏi chỗ nào thì nói ngay đi.” Bấy giờ Bồ-Tát Đại-Trang-Nghiêm cùng tám vạn vị Bồ-Tát liền đồng thanh bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế-Tôn! Bồ-Tát ma-ha-tát muốn chóng được thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác thì phải tu hành những pháp môn nào? Và những pháp môn nào có thể khiến cho Bồ-Tát ma-ha- tát chóng được đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác?” Đức Phật bảo Bồ-Tát Đại-Trang- Nghiêm và tám muôn vị Bồ-Tát rằng: “Nầy Thiện-nam-tử! Có một pháp môn hay làm cho Bồ-Tát ma-ha-tát chóng được đạo vô-thượng chánh-đẳng cháng-giác. Nếu có Bồ-Tát nào, học pháp môn đó thì có thể chóng thành được đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.” Bạch đức Thế-Tôn! “Pháp môn đó tên hiệu là gì? Nghĩa lý ra sao? Bồ-Tát phải tu hành như thế nào?” Đức Phật bảo: “Nầy Thiện-nam-tử! Một pháp môn đó tên là “Vô-Lượng- Nghĩa”, Bồ-Tát nào muốn được tu học Vô- Lượng-Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sinh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp, chỉ vì chúng sinh mê chấp lấy cái giả dối, mà cho là cái nầy, cái kia, là được, là mất, khởi ra tâm niệm chẳng lành, tạo ra mọi điều ác nghiệp, loanh quanh trong sáu ngả, chịu đủ mọi khổ độc, hàng vô lượng ức kiếp, mà không tự biết để tìm lối ra. Bồ-Tát ma-ha-tát, quán sát kỹ lưỡng như thế rồi sinh ra lòng lân mẫn, phát khởi ý đại-từ-bi, hầu mong cứu vớt. Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sinh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế; Pháp tướng như thế, hay sinh ra ác nghiệp; Pháp tướng như thế, hay sinh ra thiện pháp. Tướng Trụ, Dị, Diệt, kia cũng lại như thế. Bồ-Tát quán sát kỹ lưỡng nguồn gốc của bốn tướng như thế, đều biết cả rồi. Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sinh diệt. Lại quán sát ngay nơi Sinh, Trụ, Dị, Diệt. Quán sát như thế rồi, mà vào mọi căn tánh ham muốn của chúng sinh; vì tánh ham muôn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sinh một pháp, đó tức là “vô tướng” vậy. “Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là thật tướng” vậy. Bồ-Tát ma-ha-tát trụ vào tướng chân thật như thế rồi thì từ bi phát khởi rõ ràng chẳng rối. Đối với chúng sinh hay đem lòng chân thật cứu khổ, khi đã cứu khổ cho rồi lại vì những chúng sinh đó mà nói pháp, khiến cho các chúng sinh được hưởng khoái lạc. Nầy Thiện-nam-tử! Bồ-Tát ma-ha-tát nếu hay tu hành được một pháp môn “Vô- Lượng-Nghĩa” như thế, thì tất nhiên chóng được thành đạo vô-thượng chánh- đẳng chánh-giác. Nầy Thiện-nam-tử! “Kinh Đại-Thừa Vô-Lượng-Nghĩa” văn lý cao siêu mầu nhiệm như thế, không có kinh nào là tôn quý hơn. Chư Phật trong ba đời cũng đều gìn giữ, không có chúng ma quần đạo nào xâm nhập vào được, không bị hết thảy tà kiến sinh tử phá hoại. Vì vậy Thiện-nam- tử! Bồ-Tát ma-ha-tát muốn chóng được thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh- giác, phải nên tu học kinh Đại-thừa rất cao siêu sâu xa nầy.” Bấy giờ Bồ-Tát Đại-Trang-Nghiêm lại bạch Phật rằng: Bạch đức Thế-Tôn! Đức Thế-Tôn thuyết pháp bất-khả tư-nghì, mà căn tánh của chúng sinh cũng bất-khả tư- nghì, và pháp môn giải thoát cũng bất-khả tư-nghì; chúng con ở chốn đức Phật được nghe nói các pháp thì không còn nghi nan gì nữa, nhưng vì các chúng sinh lại sinh ra tâm mê hoặc, vì thế, con lại kính hỏi đức Thế-Tôn, từ khi đức Như-Lai đắc đạo đến nay hơn bốn mươi năm, thường vì chúng sinh diễn nói các pháp, nghĩa của bốn tướng: “Nghĩa của khổ, nghĩa của không, vô thường, vô ngã, vô đại, vô tiểu, vô sinh, vô diệt, nhất tướng, vô tướng, pháp tánh, pháp tướng bản lai rỗng lặng; không tới không lui, không ra không vào”. Nếu có người được nghe ấy, hoặc giả được pháp Noãn, pháp Đảnh, pháp Nhẫn, pháp Thế-đệ-nhất, quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà- hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán, ngôi Bích-chi-Phật, người phát tâm Bồ-đề thì lên ngôi nhất-địa, nhị-địa, tam địa, đến ngôi thập-địa Bồ-Tát. Những nghĩa của các pháp Ngài nói trước kia, so với những chỗ Ngài nói ngày nay có sai khác chỗ nào chăng? Mà nói là kinh “Đại-thừa Vô- Lượng-Nghĩa” rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa, Bồ-Tát tu hành ắt chóng được thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, việc đó thế nào, kính xin đức Thế-Tôn rủ lòng lành thương rộng vì hết thảy chúng sinh mà phân biệt cho, khắp khiến đời hiện tại và đời vị lai có ai được nghe pháp nầy thì không còn mắc phải lưới nghi ngờ nữa. Bấy giờ đức Phật bảo Bồ-Tát Đại- Trang-Nghiêm rằng: “Hay lắm! Phải lắm! Đại Thiện-nam-tử mới có thể hỏi Như-Lai nghĩa Đại-thừa rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa như thế, thì nên biết rằng ông là người hay làm nhiều điều lợi ích cho cõi nhân, cõi thiên, và cứu bạt khổ não cho chúng sinh, đúng là đại từ đại bi tin thật không dối. Vì nhân duyên ấy mà sẽ chóng được thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, và cũng khiến cho hết thảy chúng sinh đời nầy, đời sau được thành vô-thượng Bồ-đề. Nầy Thiện-nam-tử! Từ khi ta đến đạo tràng tới nay, sáu năm ngồi tư duy ở dưới gốc cây Bồ-đề được thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Ta dùng Phật nhãn xem thấy các pháp mà không thể nói ra được là vì các chúng sinh tánh ham muốn bất đồng, vì tánh ham muốn bất đồng cho nên phải dùng hết thảy các sức phương tiện thuyết pháp hơn bốn mươi năm mà không hiểu được lý chân thật, cho nên chúng sinh đắc đạo có sai khác, mà không được chóng thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác. Nầy Thiện-nam-tử: “Giáo pháp cũng ví như nước hay rửa sạch mọi thứ cấu uế; dù là nước giếng, nước ao, nước sông, nước ngòi, nước khe, nước suối hay nước biển lớn cũng đều hay rửa sạch mọi thứ cấu uế, thì nước pháp cũng giống như vậy. Nó hay rửa sạch những cấu uế phiền não cho chúng sinh. Nầy Thiện-nam-tử! “Tánh của nước kia vẫn chỉ là một, dù là nước sông, nước ngòi, nước giếng, khe suối, bể lớn, tuy đều có khác, thì pháp tánh kia cũng giống như thế, mà sự công dụng rửa sạch trần lao của nó đều không sai khác. Bởi vậy ba pháp bốn quả, hai đạo chẳng là một ư?” Nầy Thiện-nam-tử! “Nước tuy đều là để rửa, mà nó ở giếng chẳng phải ao; ở ao chẳng phải ở ngòi; ở sông, ở khe, ở suối chẳng phải ở bể. Như-Lai là bậc đại hùng ở thế gian, ở ngôi pháp tự tại, diễn nói các pháp cũng lại như thế, lúc ban đầu, khoảng giữa và sau cùng cũng đều hay rửa sạch phiền não cho các chúng sinh, mà trước chẳng phải khoảng giữa, khoảng giữa chẳng phải khoảng sau; trước giữa và sau lời văn nói ra tuy chỉ là một mà ý nghĩa đều có sai khác.” Nầy Thiện-nam-tử! “Lúc ban đầu ta từ chốn Phụ-vương, đi đến thành Ba-La-Nại, trong vườn Lộc-dã-uyển, vì các ông A- Nhã-Câu-Lân năm người; khi quay bánh xe pháp Tứ-đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng, tàn tạ thay đổi không ngừng. Trong thời gian ấy, và những nơi chốn khác, cũng vì các hàng Tỳ-kheo, các hàng Bồ-Tát, phô bày diễn nói mười hai pháp nhân duyên, sáu pháp Ba-la-mật, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng, tàn tạ thay đổi không ngừng, niệm niệm sinh diệt. Nay ở nơi đây lại diễn nói: “Kinh Đại-Thừa Vô- Lượng-Nghĩa” và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng, tàn tạ thay đổi không ngừng, niệm niệm sinh diệt.” Nầy Thiện-nam-tử! “Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác. Vì ý nghĩa có khác cho nên sự hiểu ngộ của chúng sinh cũng sai khác; vì hiểu ngộ sai khác cho nên đắc pháp, đắc đạo đắc quả cũng sai khác.” Nầy Thiện-nam-tử! Lúc ban đầu ta vì người cầu quả Thanh-văn nói ra pháp Tứ- Đế, tám ức chư Thiên đi đến nghe pháp mà phát tâm Bồ-đề; ở trong khắp nơi khắp chốn vì người cầu ngôi Bích-chi-Phật nói ra pháp mười-hai-nhân-duyên sâu xa, vô lượng chúng sinh phát tâm Bồ-đề; hoặc có người trụ vào hàng Thanh-văn; thứ đến nói kinh Phương-Đẳng mười hai bộ kinh, kinh Đại-Bát-Nhã, kinh Hoa- Nghiêm, ở nơi không hải diễn nói lịch kiếp tu hành của các Bồ-Tát mà trăm nghìn Tỳ-kheo, muôn ức trời, người, vô lượng chúng sinh được quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán, trụ vào ngôi Bích-chi-Phật ở trong pháp nhân duyên.” Nầy Thiện-nam-tử! “Vì lấy nghĩa đó, cho nên biết rằng lời nói đồng nhau mà ý nghĩa sai khác. Vì ý nghĩa sai khác, cho nên chúng sinh hiểu ngộ khác nhau, vì chỗ hiểu ngộ khác nhau cho nên đắc pháp, đắc quả, đắc đạo cũng khác nhau. Vì thế, nầy Thiện-nam-tử! Từ khi ta đắc đạo, ban đầu nói pháp cho đến ngày nay diễn nói kinh “Đại-Thừa Vô-Lượng- Nghĩa” chưa lúc nào là không nói thuyết “khổ không, vô thường, vô ngã, phi chân, phi giả, phi đại, phi tiểu, bản lai bất sinh, nay cũng bất diệt một tướng vô tướng, pháp tướng, pháp tánh, không tới, không lui, mà bốn tướng của chúng sinh thường phải biến thiên.” Nầy Thiện-Nam-tử! Vì lấy nghĩa đó cho nên Chư Phật không có chỗ nào nói hai lời, chỉ dùng một âm thanh để ứng hợp tất cả giọng tiếng và chỉ dùng một thân mà thị hiện trăm nghìn muôn ức na-do-tha vô lượng, vô số hằng-hà-sa thân; trong mỗi một thân lại thị hiện ra bao nhiêu trăm nghìn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ hằng-hà-sa chủng loại hình; trong mỗi một hình lại thị hiện ra bao nhiêu trăm nghìn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ hằng-hà-sa hình nữa. Nầy Thiện-nam-tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất-khả tư-nghì của Chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập-trụ Bồ-Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo. Nầy Thiện-nam-tử! Vì thế mà nói kinh “Đại-Thừa Vô-Lượng-Nghĩa” rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa, văn lý chân chánh, không kinh nào tôn hơn. Chư Phật trong ba đời đều cùng gìn giữ, không có chúng ma ngoại đạo nào xâm nhập vào được; không bị hết thảy tà kiến sinh tử làm nát hoại. Bồ-Tát ma-ha-tát nếu muốn chóng được thành đạo vô thượng Bồ-đề thì phải tu học kinh “Đại-Thừa Vô-Lượng-Nghĩa” rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa như thế. Đức Phật nói như thế rồi, khi ấy cõi tam-thiên đại-thiên thế giới sáu lần rung động; tự nhiên ở trong hư không mưa xuống các thứ hoa trời: Hoa thiên-ưu-bát- la, hoa bát-đàm-ma, hoa câu-vật-đầu, hoa phân-đà-lợi. Lại rải xuống các thứ hương thơm cõi trời, áo đẹp cõi trời, tràng anh- lạc cõi trời, ngọc vô giá cõi trời, ở trên không trung vòng quanh rơi xuống cúng dường đức Phật và các vị Bồ-Tát, đại chúng Thanh-văn, món ăn cõi trời, bình bát cõi trời, trăm vị cõi trời sung mãn rạt rào; phan trời, phướn trời, tán lọng cõi trời, những đồ âm nhạc vi diệu cõi trời, bày đặt khắp nơi, hòa tấu nhạc trời để cúng dường và khen ngợi đức Phật. Lại nữa những thế giới của Chư Phật về phương Đông như số cát sông Hằng sáu lần rung động, cũng rải hoa trời, hương trời, áo trời, tràng anh-lạc cõi trời, ngọc vô giá cõi trời, món ăn cõi trời, bình bát cõi trời, trăm vị thơm ngon cõi trời, phan trời, phướn trời, tàn tán cõi trời, những đồ âm nhạc vi diệu cõi trời, đặt ở khắp nơi để hòa tấu cúng dường và khen ngợi đức Phật kia, và các vị Bồ-Tát, đại chúng Thanh-văn cõi đó. Phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phương bàng, và phương trên, phương dưới cũng đều như thế. Bấy giờ trong đại chúng có một muôn hai nghìn vị Bồ-Tát ma-ha-tát được Vô- Lượng-Nghĩa tam muội, một muôn bốn nghìn vị Bồ-Tát ma-ha-tát được vô lượng vô số Đà-la-ni môn, có thể chuyển hết thảy xe pháp bất thoái chuyển của tam thế Chư Phật. Còn các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu- bà-tắc, Ưu-bà-di, bộ Thiên, bộ Long, quỉ Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, vua Đại- chuyển-luân, vua Tiểu-chuyển-luân, vua Ngân-luân, vua Thiết-luân, và các vị vua Luân khác. Các vị quốc-vương, vương-tử, quốc-thần, quốc-dân, quốc-sĩ, quốc-nữ, các đại trưởng-giả trong nước và các họ hàng trăm nghìn muôn người đều tề tựu nghe Phật nói Pháp. Khi nói kinh nầy rồi, hoặc có người chứng được pháp Noãn, pháp Đảnh, và pháp Thế-đệ-nhất; quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-La- Hán ngôi Bích-chi-Phật. Lại chứng được Bồ-Tát vô-sinh pháp-nhẫn lại được một Đà-la-ni, hai Đà-la-ni, ba Đà-la-ni, bốn Đà-la-ni, năm Đà-la-ni, sáu bảy tám chín mười Đà-la-ni; lại được trăm nghìn muôn ức Đà-la-ni; lại được vô lượng vô số hằng- hà-sa a-tăng-kỳ Đà-la-ni, đều hay tùy thuận chuyển xe pháp bất thoái chuyển, và vô lượng chúng sinh phát tâm vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác.

 

PHẨM THỨ BA “MƯỜI CÔNG ĐỨC”

Bấy giờ ngài Đại-Trang-Nghiêm Bồ- Tát ma-ha-tát lại bạch Phật rằng: Bạch đức Thế-Tôn! Đức Thế-Tôn nói kinh Đại-Thừa Vô-Lượng-Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm, rất sâu xa chân thật, và rất sâu xa tuyệt vời. Sở dĩ vì sao? Trong chúng nơi đây, các vị Bồ-Tát ma-ha-tát, và hàng tứ chúng bộ Thiên, bộ Long, các quỉ thần v.v... các vị quốc-vương, các quan đại thần, và người dân thứ; có các chúng sinh được nghe kinh “Đại-Thừa Vô-Lượng-Nghĩa” này, không ai là không phát tâm Bồ-đề, chứng được Đà-la-ni môn, tam pháp, tứ quả, thì nên biết pháp đó văn lý chân thật không có pháp nào tôn hơn; được tam thế Chư Phật gìn giữ, không bị chúng ma quần đạo xâm nhập vào được, không bị hết thảy tà kiến sinh tử làm nát hoại. Sở dĩ vì sao? Vì người được nghe một câu thì hay giữ được hết thảy các pháp. Nếu có chúng sinh nào được nghe kinh nầy thì người đó được lợi ích rất lớn. Vì sao? Vì người đó nếu hay tu hành tất sẽ chóng được thành đạo vô thượng Bồ-đề. Còn có những chúng sinh chẳng được nghe kinh nầy, thì nên biết những chúng sinh đó làm mất lợi ích lớn. Qua vô lượng vô biên bất-khả tư-nghì a-tăng-kỳ kiếp quyết chẳng được thành đạo vô thượng Bồ-đề. Tại vì sao? Vì những người ấy chẳng biết đi thẳng đến đạo vô thượng Bồ-đề, lại đi vào đường tắt hiểm trở mắc nhiều tai nạn. Bạch đức Thế-Tôn! “Kinh điển nầy là bất-khả tư-nghì, cúi xin đức Thế-Tôn rộng vì đại chúng rủ lòng lành thương, diễn nói những việc rất sâu xa bất-khả tư-nghì của kinh nầy. Bạch đức Thế-Tôn! Kinh điển nầy do từ nơi nào tới? Sẽ đi về nơi nào? Và trụ ở nơi chốn nào? Mà có vô lượng năng lực bất-khả tư-nghì như thế? Khiến cho chúng sinh chóng được thành đạo vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác”. Bấy giờ đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Đại- Trang-Nghiêm rằng: Nầy Thiện-nam-tử! Hay lắm! Phải lắm. Đúng thế, đúng thực như lời ông nói. Nầy Thiện-nam-tử! Ta nói kinh nầy rất cao siêu mầu nhiệm, rất chân thật sâu xa là tại vì sao? Là vì muốn cho hết thảy chúng sinh chóng được thành đạo vô- thượng chánh-đẳng chánh-giác. Người nghe một câu có thể thọ trì được tất cả các pháp; vì các chúng sinh mà làm lợi ích lớn; vì đi trên con đường thẳng lớn, không còn vướng mắc tai nạn gì nữa. Nầy Thiện-nam-tử! Ông hỏi kinh nầy do từ nơi nào mà tới? Sẽ đi về nơi nào? Và trụ ở nơi chốn nào? Vậy ông hãy lắng nghe cho rõ, ta sẽ nói cho nghe. Nầy Thiện-nam-tử! Kinh nầy vốn nó từ trong nơi nhà Chư Phật mà tới, nó đi đến chỗ hết thảy chúng sinh phát tâm Bồ-đề, và trụ ở nơi các vị Bồ-Tát sở trụ. Nầy Thiện-nam-tử! Kinh nầy đến là như thế, đi là như thế, và trụ là như thế. Vì vậy cho nên kinh nầy hay có vô lượng năng lực bất-khả tư-nghì công đức khiến cho chúng sinh chóng được thành đạo vô- thượng chánh-đẳng Bồ-đề. Nầy Thiện-nam-tử! Há ông có muốn được nghe kinh nầy lại có mười năng lực bất-khả tư-nghì công đức chăng? Bồ-Tát Đại-Trang-Nghiêm bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Con muốn được nghe lắm. Đức Phật bảo: “Nầy Thiện-nam-tử! Kinh nầy: Một là, hay khiến cho các Bồ-Tát chưa phát tâm, thì phát tâm Bồ-đề; không có lòng nhân từ, thì khởi ra lòng nhân từ; người hay sát hại, thì khởi ra tâm đại bi; người hay ghen ghét, thì khởi ra tâm tùy hỷ; người tham ái chấp trước, thì khởi ra tâm hỷ xả; người sẻn tham, thì khởi ra tâm bố thí; người kiêu mạn nhiều, thì khởi ra tâm giữ giới; người giận dữ nhiều, thì khởi ra tâm nhẫn nhục; người hay lười biếng, thì khởi ra tâm tinh tấn; người hay tán loạn, thì khởi ra tâm thiền định; với người si mê, thì khởi ra tâm trí huệ; người chưa hay độ người, thì khiến cho phát tâm độ người; người hay làm thập ác, thì khiến cho phát tâm làm thập thiện; người tu pháp hữu vi, thì khiến cho chí cầu đạo vô vi; người tâm có thoái chuyển, thì khiến cho tâm bất thoái; người làm hạnh hữu lậu, thì khiến cho phát tâm vô lậu; người nhiều phiền não, thì khiến cho phát tâm trừ diệt. Nầy Thiện-nam-tử! Đó là năng lực thứ nhất bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy vậy.” Nầy Thiện-nam-tử! “Năng lực thứ hai bất khả tư-nghì công đức của kinh nầy là: Nếu có chúng sinh nào được nghe kinh nầy rồi, dù chuyển đọc một lượt, một bài kệ cho đến một câu thì có thể thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa. Đến vô số kiếp mà chẳng hay diễn nói những pháp đã thọ trì. Vì sao? Vì pháp đó là Vô-Lượng- Nghĩa vậy.” Nầy Thiện-nam-tử! “Kinh nầy cũng ví như từ một hạt giống mà phát sinh ra trăm nghìn muôn; trong trăm nghìn muôn hạt giống kia, thì mỗi một hạt lại phát sinh ra hàng trăm nghìn muôn nữa. Cứ như thế dần dần cho đến vô lượng, thì kinh nầy cũng lại như thế. Từ một phát sinh ra trăm nghìn nghĩa; trong trăm nghìn nghĩa, thì mỗi một nghĩa lại sinh ra trăm nghìn muôn số, cứ thế dần dần cho đến vô lượng vô biên nghĩa. Vì vậy cho nên kinh nầy gọi là Vô-Lượng-Nghĩa. Nầy Thiện-nam-tử! Đó là năng lực thứ hai bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy Thiện-nam-tử! Năng lực thứ ba bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy là: Nếu có chúng sinh nào được nghe kinh nầy, dù chuyển đọc một lượt, một bài kệ cho đến một câu, thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa rồi. Tuy có phiền não thì cũng như không có phiền não, ra vào chốn sinh tử không có tư tưởng sợ sệt; đối với chúng sinh thì sinh ra tư tưởng thương xót; đối với nhứt-thiết-pháp thì được tư tưởng mạnh mẽ; như người tráng sĩ hay mang hay giữ những món nặng nề, người trì kinh nầy cũng lại như thế, hay gánh trọng trách của đạo vô-thượng chánh- đẳng Bồ-Đề; hay mang đội chúng sinh ra khỏi đường sinh tử. Tuy chưa độ được mình mà đã hay độ cho người. Ví như thuyền trưởng, tuy mình mắc bệnh nặng, bốn thể chẳng đều, yên nghỉ ở bờ bên đây; nhưng có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia. Người trì kinh nầy cũng lại như thế, tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu- lậu nơi ngũ-đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: “Vô minh già chết”, mà có kinh Đại-Thừa bền chắc nầy, trang biện Vô-Lượng-Nghĩa để cứu độ chúng sinh. Nếu chúng sinh theo đúng lý thuyết mà tu hành thì được qua khỏi chốn sinh tử. Nầy Thiện-nam-tử! Đó là năng lực thứ ba bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy Thiện-nam-tử! Năng lực thứ tư bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy là: Nếu có chúng sinh nào được nghe kinh nầy dù chuyển đọc một lượt, dù một bài kệ, cho đến một câu thì được tư tưởng mạnh mẽ. Tuy chưa độ mình mà có thể độ cho người khác, và cùng các Bồ-Tát để làm thân thuộc. Chư Phật Như-Lai thường hướng về người ấy mà diễn nói kinh pháp; người ấy nghe rồi đều hay thọ trì, thuận theo chẳng trái, rồi lại vì người khác mà tùy nghi diễn nói rộng ra. Nầy Thiện-nam-tử! Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sinh ra thái tử, dù mới được một ngày, hai ngày, cho đến bảy ngày; dù một tháng, hai tháng, cho đến bảy tháng; dù là một năm, hai năm, cho đến bảy năm. Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu. Vua và phu nhân thường nói với nhau là lòng rất mến yêu không chút thiên vị. Sở dĩ vì sao? Vì nó hãy còn thơ ấu. Nầy Thiện-nam-tử! Người trì kinh nầy cũng lại như thế. Chư Phật là quốc vương, kinh nầy là phu nhân, hòa hợp cùng nhau sinh ra con là Bồ-Tát. Nếu Bồ-Tát đó được nghe kinh nầy, dù là một câu hay một bài kệ, dù chuyển đọc một lượt, hai lượt; dù là mười lượt, trăm lượt, cho đến muôn ức vạn hằng-hà-sa vô lượng vô số. Tuy lại chẳng hay thể nhập vào được chân lý cao siêu, và chẳng hay làm chấn động được ba nghìn đại thiên quốc độ, tiếng phạm như sấm vang, chuyển xe đại pháp; nhưng đã được tất cả bốn chúng, tám bộ kính tin, và cùng các đại Bồ-Tát làm quyến thuộc thâm nhập vào pháp bí mật của Chư Phật. Những chỗ nên diễn nói ra thì không trái không lỗi, thường được Chư Phật hộ niệm, vì kẻ tân học cho nên đem lòng từ ái che chở thêm nhiều. Nầy Thiện-nam-tử! Đó là năng lực thứ tư bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy Thiện-nam-tử! “Năng lực thứ năm bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện-nam, thiện-nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, có người thọ trì, đọc tụng, viết chép kinh Đại-Thừa Vô-Lượng-Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm nầy, người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo đại Bồ-Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày, khiến cho các chúng sinh kia vui mừng tin theo. Nầy Thiện-nam-tử! Người thiện-nam, thiện-nữ đó cũng ví như là Long-tử (rồng con) mới sinh được bảy ngày, tức là cũng có thể làm cho mây nổi lên và cũng có thể làm cho mưa xuống.” Nầy Thiện-nam-tử! Đó là năng lực thứ năm bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy Thiện-nam-tử! “Năng lực thứ sáu bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy là: Nếu có người thiện-nam, thiện-nữ nào dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ mà thọ trì, đọc tụng kinh điển nầy, tuy bị đủ mọi phiền não mà vẫn vì chúng sinh nói pháp, khiến cho họ xa lìa phiền não dứt hết nỗi khổ sinh tử. Chúng sinh nghe rồi tu hành đắc pháp, đắc quả, đắc đạo, cùng với Chư Phật Như Lai đều không sai khác. Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước. Thái tử khi ấy y theo mệnh lệnh của vua, theo đúng như pháp truyền lệnh cho các quần thần, bá quan văn võ, đem chánh hóa đi truyền dạy cho nhân dân khắp nước, đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác. Người thiện-nam, thiện-nữ thọ trì kinh nầy cũng lại như thế, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ. Người thiện- nam, thiện-nữ nầy tuy chưa được trụ ở nơi ngôi Sơ-địa-bất-động, nhưng y theo đúng lời Phật dạy dùng để thuyết giáo phô diễn. Chúng sinh nghe rồi một lòng tu hành để đoạn trừ phiền não mà đắc pháp, đắc quả, cho đến đắc đạo.” Nầy Thiện-nam-tử! Đó là năng lực thứ sáu bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy Thiện-nam-tử! “Năng lực thứ bảy bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện-nam, thiện-nữ nào dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, được nghe kinh nầy mà vui mừng tin theo, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép, theo đúng lý thuyết tu hành, phát tâm Bồ-Đề khởi ra mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sinh khổ não mà chưa được tu hành sáu pháp ba-la-mật, thì sáu pháp ba-la-mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô-sinh pháp- nhẫn. Sinh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất-địa đại Bồ-Tát. Ví như người tráng sĩ trừ dẹp giặc oán cho nhà vua; khi giặc oán kia đã dẹp xong, thì nhà vua rất vui mừng liền đem cả nửa nước mà ban thưởng cho. Người thiện- nam, thiện-nữ thọ trì kinh nầy cũng lại như thế, vì vậy người hành giả rất là mạnh mẽ Lục-độ Pháp-bảo không phải tìm cầu đâu xa mà tự nhiên đến, giặc oán sinh tử cũng tự nhiên tan biến, mà chứng quả vô-sinh pháp-nhẫn, nửa nước báu cõi Phật phong thưởng cho được an vui.” Nầy Thiện-nam-tử! Đó là năng lực thứ bảy bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy vậy.Nầy Thiện-nam-tử! “Năng lực thứ tám bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện-nam, thiện-nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, có người nào hay được nghe kinh nầy, mà kính tin coi như thân Phật đều không có khác. Ham thích kinh nầy mà thọ trì, đọc tụng, viết chép, đầu đội kính mến theo như pháp vâng làm, kiên trì giới hạnh, nhẫn nhục, gồm làm những việc bố thí, phát tâm từ bi sâu rộng. Lại đem kinh “Đại-Thừa Vô-Lượng-Nghĩa” cao siêu nầy, vì người diễn nói rộng ra. Nếu những người đến trước mà họ đều chẳng tin là có tội phước ấy, thì đem kinh nầy chỉ bảo cho họ, rồi bày ra các thứ phương tiện khuyến hóa cho họ tin theo. Dùng oai lực của kinh nầy khiến tâm người đó được sáng tỏ mà quay về chánh đạo; khi lòng tin của họ đã phát khởi thì dõng mãnh tinh tấn. Vì vậy người hay được nghe kinh nầy là có uy đức thế đức, đắc đạo, đắc quả. Cho nên người thiện-nam, thiện-nữ, vì nhờ công đức giáo hóa mà người thiện- nam thiện-nữ kia ở ngay thân nầy được vô-sinh-pháp-nhẫn, và được đến ngôi thượng-địa, cùng với các vị Bồ-Tát làm quyến thuộc, chóng được thành tựu chúng sinh; cõi Phật thanh tịnh, và chẳng bao lâu được thành đạo vô-thượng chánh- đẳng Bồ-đề.” Nầy Thiện-nam-tử! Đó là năng lực thứ tám bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy Thiện-nam-tử! “Năng lực thứ chín bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện-nam, thiện-nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, có người được nghe kinh nầy mà vui mừng được điều chưa từng có, rồi thọ trì, đọc tụng, cúng dường, lại vì người khác giải nói phân biệt nghĩa của kinh nầy rộng ra, thì những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba-la-mật. Được các môn tam-muội: Thủ-lăng- nghiêm tam-muội; và môn Tổng-trì được sức cần tinh tấn, chóng được lên ngôi thượng địa, phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sinh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát. Vì vậy mà kinh nầy có năng lực như thế.” Nầy Thiện-nam-tử! Đó là năng lực thứ chín bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy Thiện-nam-tử! “Năng lực thứ mười bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện-nam, thiện-nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, nếu được nghe kinh nầy mà phát khởi tâm đại hoan hỷ rất hiếm có, tự mình liền thọ trì, đọc tụng, viết chép, cúng dường, theo đúng lý thuyết tu hành. Lại hay khuyên người tại gia, xuất gia thọ trì, đọc tụng, viết chép, cúng dường, và giải nói rộng ra, rồi cũng theo đúng lý thuyết tu hành. Vì đã khiến người khác nhờ năng lực của kinh nầy mà tu hành đắc đạo, đắc quả, là đều do nhờ sức người thiện-nam, thiện-nữ đó phát khởi từ tâm khuyến hóa, cho nên người thiện-nam, thiện-nữ ấy ngay thân nầy liền được các môn Đà-la-ni. Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số a-tăng-kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sinh thành tựu đại bi, rộng hay bạt khổ, huân tập nhiều căn lành, làm lợi ích cho hết thảy, mà diễn bày các pháp thanh tịnh để thấm nhuần các chốn khô khan. Lại đem những phương pháp đã được này mà ban cho hết thảy chúng sinh được yên vui, rồi dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân-địa, ân đức thấm nhuần khắp cả, lòng từ cứu giúp không bờ bến, tiếp dắt chúng sinh khổ não, khiến cho thâm nhập vào con đường đạo. Vì vậy người đó chẳng bao lâu được thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.” Nầy Thiện-nam-tử! Đó là năng lực thứ mười bất-khả tư-nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy Thiện-nam-tử! Như vậy thì kinh “Vô-Thượng Đại-Thừa Vô-Lượng-Nghĩa” nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sinh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là “Vô-Lượng-Nghĩa”. Kinh nầy hay làm cho hết thảy chúng sinh ở ngay nơi mảnh đất phàm phu mà phát sinh nảy nở ra vô lượng mầm mống các Bồ-Tát đạo; khiến cho cây công đức lớn thêm và tươi tốt sum sê. Vì vậy mà kinh nầy gọi là “Năng lực bất-khả tư-nghì công đức” vậy. Bấy giờ ngài Đại-Trang-Nghiêm Bồ- Tát và tám vạn vị Bồ-Tát ma-ha-tát đều đồng thanh bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế-Tôn! Như lời Phật dạy: Kinh “Đại- Thừa Vô-Lượng-Nghĩa” rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa, văn lý chân chánh, không gì tôn hơn, được tam thế Chư Phật cùng gìn giữ, không có chúng ma quần đạo nào xâm nhập vào được, không bị hết thảy tà kiến, sinh tử làm nát hoại. Vì vậy cho nên kinh nầy mới có mười năng lực bất-khả tư-nghì công đức vậy. Làm vô lượng đại lợi ích cho hết thảy chúng sinh, khiến cho hết thảy các vị Bồ- Tát đều được “Vô-Lượng-Nghĩa tam- muội”; hoặc được trăm nghìn môn Đà-la- ni; hoặc được các ngôi các pháp nhẫn của các Bồ-Tát, hoặc được ngôi Duyên-giác, A-la-hán và chứng bốn đạo quả. Đức Thế- Tôn rủ lòng từ mẫn vui vì lũ chúng con nói ra pháp đó khiến cho chúng con được pháp lợi lớn thật là thời gian rất kỳ diệu chưa từng có vậy. Bạch đức Thế-Tôn! Lòng từ mẫn và ân đức của Ngài, chúng con thật khó có thể báo đáp được. Khi nói như thế rồi, lúc bấy giờ cõi tam-thiên đại-thiên thế-giới sáu điệu đều rung động. Ở trên không trung lại mưa xuống các thứ hoa thơm: Hoa Thiên-ưu- bát-la, hoa Bát-đàm-ma, hoa Câu-vật-đầu, hoa Phân-đà-lợi v.v... Lại mưa xuống vô số các thứ hương trời, áo báu cõi trời, tràng anh lạc cõi trời, ngọc vô giá cõi trời ở trong hư không dần dần rơi xuống để cúng dường đức Phật và các vị Bồ-Tát đại chúng Thanh-văn. Món ăn cõi trời, bình bát cõi trời, sung mãn rạt rào, trăm vị thơm ngon cõi trời, mỗi khi thấy sắc nghe hương thì tự nhiên no đủ. Phướn trời, phan trời, tàn lọng cõi trời các đồ âm nhạc vi diệu cõi trời đặt bày ờ khắp nơi hòa tấu nhạc trời để cúng dường và khen ngợi đức Phật. Lại nữa, hằng-hà-sa số các cõi Chư Phật ở phương Đông cũng sáu lần rung động, và cũng mưa xuống các thứ hoa trời, hương trời, áo báu cõi trời, tràng anh lạc cõi trời, ngọc vô giá cõi trời, món ăn trăm vị thơm ngon cõi trời. Bình bát cõi trời, mỗi khi thấy sắc nghe hương thì tự nhiên no đủ. Phướn trời, phan trời, tán lọng cõi trời những đồ âm nhạc vi diệu cõi trời và hòa tấu kỷ nhạc cõi trời, để cúng dường và khen ngợi đức Phật kia, cùng các vị Bồ- Tát, đại chúng Thanh-văn. Phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phương bàng, phương trên, phương dưới cũng đều như thế. Bấy giờ đức Phật bảo ngài Đại-Trang- Nghiêm Bồ-Tát ma-ha-tát và tám vạn vị Bồ-Tát ma-ha-tát rằng: “Các ông đối với kinh nầy phải nên đem hết lòng cung kính sâu xa, theo đúng như pháp mà tu hành, và khuyến hóa hết thảy làm cho lưu truyền rộng ra, lòng thường siêng năng tinh tấn giữ gìn ngày đêm khiến chúng sinh đều được sự lợi ích của giáo pháp. Các ông thật là người đại từ đại bi lập nguyện lực thần thông, kính mến giữ gìn kinh nầy đừng để cho ngừng trệ. Và về đời mai sau phải lưu hành rộng khắp cả cõi Nam-diêm-phù-đề, khiến cho hết thảy chúng sinh được thấy, được nghe, đọc tụng, viết chép, cúng dường. Vì những lẽ đó mà khiến các ông chóng được thành đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác.” Bấy giờ ngài Đại-Trang-Nghiêm Bồ- Tát ma-ha-tát cùng với tám vạn vị Bồ-Tát ma-ha-tát liền từ tòa ngồi đứng dậy, đi đến chỗ Phật đầu mặt lễ dưới chân Phật, rồi nhiễu trăm nghìn vòng, và quỳ xuống trước Phật đều đồng thanh bạch rằng: Bạch đức Thế-Tôn! Chúng con rất lấy làm vui mừng, đức Thế-Tôn đã rủ lòng lành thương, vì chúng con mà nói kinh “Đại- Thừa Vô-Lượng-Nghĩa” rất cao siêu mầu nhiệm nầy, chúng con xin cung kính tin theo lời Phật dạy. Sau khi đức Như-Lai diệt độ, chúng con sẽ truyền bá kinh nầy làm cho lan rộng khắp nơi, đều khiến cho ai nấy thọ trì, đọc tụng, viết chép, cúng dường. Cúi xin đức Thế-Tôn đừng đem lòng buồn lo, chúng con sẽ dùng nguyện lực khắp khiến cho ai nấy đều được nhờ oai thần lực của kinh điển nầy vậy. Khi ấy đức Phật khen rằng: “Quý hóa thay! Quý hóa thay! Các Thiện-nam-tử! Các ông ngày nay thật là Phật tử chân chánh, lòng đại từ đại bi sâu xa của các ông hay bạt khổ cứu ách, là ruộng phước tốt cho hết thảy chúng sinh, rộng vì hết thảy. Làm người dẫn đường tốt, làm nơi nương tựa lớn cho hết thảy chúng sinh; làm đại thí chủ cho hết thảy chúng sinh, thường đem lợi ích của giáo pháp rộng ban cho hết thảy. Khi đức Phật nói kinh nầy xong, thì hết thảy đại chúng trong pháp hội đều vui mừng thọ trì, rồi làm lễ Phật mà xin lui.

 

 

Nghi Thức Hồi Hướng

MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

 

Quán-Tự-Tại Bồ-Tát, hành thâm Bát- nhã-ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị. Xá-Lợi-Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh hương, vị, xúc, pháp, vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới; vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-Ðề-Tát-Ðỏa y Bát-nhã ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam thế Chư Phật y Bát-nhã ba-la-mật-đa cố, đắc A- nậu-đa-la-tam-miệu tam-bồ-đề. Cố tri Bát-nhã ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chân thiệt bất hư. Cố thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết: 

Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la tăng- yết-đế Bồ-đề Tát-bà-ha.

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa (3 lần)

 

VÃNG SINH QUYẾT ĐỊNH CHÂN NGÔN

Nam-mô A di đa bà dạ.

Ða tha dà đa dạ,

Ða địa dạ tha. 

A di rị đô bà tỳ.

A di rị đa, tất đam bà tỳ.

A di rị đa, tỳ ca lan đế. 

A di rị đa, tỳ ca lan đa. 

Già di nị, dà dà na.

Chỉ đa ca lệ, ta bà ha.

Khể thủ Tây-phương An-Lạc quốc,

Tiếp dẫn chúng sinh đại Đạo-Sư,

Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sinh,

Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ,

Ngã kim phổ vị tứ ân tam hữu,

Cập pháp giới chúng sinh cầu Chư Phật,

Nhứt thừa vô thượng Bồ-đề đạo cố

Chuyên tâm trì niệm A-Di-Đà Phật,

Vạn đức hồng danh kỳ sinh Tịnh-độ.

Duy nguyện Từ-Phụ A-Di-Đà Phật,

Ai lân nhiếp thọ từ bi gia hộ.

A-Di-Ðà Phật thân kim sắc

Tướng hảo quang minh vô đẳng luân

Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu-Di

Cám mục trừng thanh tứ đại hải

Quang trung hóa Phật vô-số ức

Hóa Bồ-Tát chúng diệc vô-biên

Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam-mô Tây-phương Cực-Lạc Thế- Giới Đại-Từ Đại-Bi Tiếp-Dẫn Đạo-Sư A- Di-Ðà Phật.

Nam-mô A-Di-Ðà Phật.(108 lần)

Nam-mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.(1 lần)

Nam-mô Ðại-Thế-Chí Bồ-Tát.(1 lần)

Nam-mô Ðịa-Tạng-Vương Bồ-Tát.(1 lần)

Nam-mô Thanh-Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lần)

 

PHỤC NGUYỆN

Đệ tử chúng đẳng, hiện thị sinh tử phàm phu, tội chướng thâm trọng, luân hồi lục đạo, khổ bất khả ngôn; kim ngộ tri thức, đắc văn A-Di-Đà danh hiệu, bổn nguyện công đức, nhứt tâm xưng niệm, cầu nguyện vãng sinh, nguyện Phật từ bi bất xả, ai lân nhiếp thọ, đệ tử chúng đẳng, bất thức Phật thân, tướng hảo quang minh, nguyện Phật thị hiện, linh ngã đắc kiến, cập kiến Quán-Âm Thế-Chí chư Bồ- tát chúng, bỉ thế giới trung, thanh tịnh trang nghiêm, quang minh diệu tướng đẳng, linh ngã liễu liễu đắc kiến, A-Di-Đà Phật.

Ngã kim trì niệm A-Di-Đà

Tức phát Bồ-đề quảng đại nguyện

Nguyện ngã định huệ tốc viên minh

Nguyện ngã công đức giai thành tựu

Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm

Nguyện cộng chúng sinh thành Phật đạo.

Vãng tích sở tạo chư ác nghiệp

Giai do vô thỉ tham sân si

Tùng thân ngữ ý chi sở sinh

Nhứt thiết ngã kim giai sám hối.

Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời

Tận trừ nhứt thiết chư chướng ngại

Diện kiến bỉ Phật A-Di-Đà

Tức đắc vãng sinh An-Lạc sát.

Ngã ký vãng sinh Cực-Lạc dĩ

Hiện tiền thành tựu thử đại nguyện

Nhứt thiết viên mãn tận vô dư

Lợi lạc nhứt thiết chúng sinh giới.

Ngã Phật chúng hội hàm thanh tịnh

Ngã thời ư thắng liên-hoa sinh

Thân đỗ Như-Lai Vô-Lượng-Quang

Hiện tiền thọ ngã Bồ-đề ký

Mong ngã Như-Lai thọ ký dĩ

Hóa thân vô số bách cu-chi

Trí lực quảng đại biến thập phương

Phổ lợi nhứt thiết chúng sinh giới.

Chúng sinh vô-biên thệ nguyện độ,

Phiền não vô-tận thệ nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,

Phật đạo vô-thượng thệ nguyện thành

Nguyện sinh Tây-phương Tịnh-độ trung

Cửu phẩm liên-hoa vi phụ mẫu

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sinh

Bất thối Bồ-Tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công đức

Trang nghiêm Phật Tịnh-độ

Thượng báo tứ trọng ân

Hạ tế tam đồ khổ.

Nhược hữu kiến văn giả

Tức phát Bồ-đề-tâm

Tận thử nhứt báo thân

Đồng sinh Cực-Lạc quốc,

Tận thử nhứt báo thân

Đồng sinh An-Dưỡng quốc.

 

NGUYỆN

A-Di-Đà Phật, thường lai hộ trì, linh ngã thiện căn, hiện tiền tinh tấn, bất thất tịnh nhân, lâm mạng chung thời, thân tâm chánh niệm, thị thính phân minh, diện phụng Di-Đà, dữ như thánh chúng, thủ chấp hoa đài, tiếp dẫn ư ngã. Nhứt sát na khoảnh, sinh tại Phật tiền, cụ Bồ-Tát đạo, quảng độ chúng sinh, đồng thành chủng trí.

 

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

Nam Mô A Di Đà Phật Thế Tôn.

Nguyện ngã tội chướng tất tiêu diệt. (1 lạy)

Nguyện ngã hiện-căn nhựt tăng trưởng. (1 lạy)

Nguyện ngã Thân-tâm hàm thanh tịnh. (1 lạy)

Nguyện ngã Nhứt-tâm tảo thành tựu. (1 lạy)

Nguyện ngã Tam-muội đắc hiện tiền. (1 lạy)

Nguyện ngã Tịnh-nhân tốc viên mãn. (1 lạy)

Nguyện ngã Liên-đài tự tiêu danh. (1 lạy)

Nguyện ngã Kiến Phật ma đảnh ký. (1 lạy)

Nguyện ngã Dự-tri mạng chung thời. (1 lạy)

Nguyện ngã Vãng-sinh Cực-Lạc quốc. (1 lạy)

Nguyện ngã Viên-mãn Bồ-Tát đạo. (1 lạy)

Nguyện ngã Quảng-độ chư chúng sinh. (1 lạy)

 

Chí tâm quy mạng đảnh lễ:

Nam-mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Giáo Chủ,

Thọ Quang Thể Tướng Vô Lượng Vô Biên,

Từ Thệ Hoằng Thâm,

Tứ Thập Bát Nguyện Độ Hàm Linh,

Đại Từ, Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Như Lai Biến Pháp Giới Tam Bảo. (1 lạy)

 

HỒI HƯỚNG

Phúng kinh công đức thù thắng hạnh Vô biên thắng phước giai hồi hướng 

Phổ nguyện pháp-giới chư chúngsanh, Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát.

Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não Nguyện đắc trí-huệ chân minh liễu

Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ Thế thế thường hành Bồ-Tát đạo.

Nguyện sinh Tây-phương Tịnh-độ trung, Cửu phẩm Liên-Hoa vi phụ mẫu,

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sinh, Bất thối Bồ-Tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công-đức,

Phổ cập ư nhứt thiết, Ngã đẳng dữ chúng-sinh, Giai cọng thành Phật-đạo.

 

TAM QUY Y

Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm. (1 lạy)

Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng- sinh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải. (1 lạy)

Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại. (1 lạy)

🙏 NGHI THỨC SAU KHI ĐỌC KINH, CHÚ

IV. Hậu Nghi: Phổ Nguyện Hồi Hướng

Hành giả chắp tay, đọc lời hồi hướng công đức:

"Con xin đem công đức trì tụng kinh Kinh Sách Tu Tập này, hồi hướng cho:

  1. Cửu huyền thất tổ, nội ngoại tông thân nhiều đời kiếp, nguyện ông bà cha mẹ siêu sinh Tịnh Độ.

  2. Oan gia trái chủ, những chúng sinh con vô tình hay cố ý tổn hại, nguyện hóa giải oán kết, đồng tu thiện nghiệp.

  3. Vong linh thai nhi, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, và thập nhị loại cô hồn nơi đất này, mong tất cả nương nhờ Phật lực, sớm thoát luân hồi.

  4. Gia đình bản thân: Cầu nguyện gia môn hưng thịnh, tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ, công việc hanh thông. Nguyện cho bản thân con trí tuệ khai mở, tâm bồ đề kiên cố, bền bỉ tu học, tinh tấn không lui sụt."

Phục nguyện: Nguyện khắp thế giới an lành, chúng sinh đồng đăng bỉ ngạn.

Nam Mô A Di Đà Phật. (Lạy 3 lễ rồi lui ra)